Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ TẠI TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Thương tích ở trẻ em là một vấn đề y tế cộng đồng ngày càng phát triển trên phạm vị toàn cầu. Trên thế giới, ở mỗi nước nói riêng, các cơ quan quản lí trường học mầm non đều xây dựng hệ thống pháp lý quản lí nhằm phòng tránh thương tích, tai nạn cho trẻ trong môi trường mầm non.
Tùy điều kiện cụ thể từng quốc gia, hoàn cảnh xã hội cụ thể, các nhà QLGD xây dựng nên những hệ thống công cụ QLGD đối với hoạt động phòng tránh TNTT cho trẻ cho phù hợp. Tại Mỹ, Trung tâm quốc gia về thống kê y tế, trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch bệnh của Mỹ năm 2009 đã thống kê những nguyên nhân dẫn đến tử vong ở trẻ, từ đó xây dựng kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ với phương châm 3 “Es”: Education (giáo dục), Enforcement (quy định bắt buộc) và Engineering (thiết kế ứng dụng). Trong đó giáo dục là yếu tố nền tảng để đưa đến cộng đồng những giải pháp, hành động nhằm phòng tránh TNTT tối ưu cho trẻ. Những quy định bắt bắt buộc (Enforcement) dựa trên hệ thống pháp luật để điều chỉnh hành vi phù hợp, đảm bảo mọi an toàn của trẻ.
Cuối cùng là sử dụng những thiết kế ứng dụng (Engineering) để tạo ra môi trường bảo đảm an toàn nhất là trong việc sang tạo các đồ chơi cho trẻ (U. Department of Health and Human Services - Centers for Disease Control and Prevention of National Center for Injury Prevention and Control, 2012). Tại Australia, các chính sách giáo dục khẳng định phát triển giáo dục mầm non giữ vai trò tiên quyết, nền tảng đối với phát triển đất nước. Chương trình giáo dục mầm non của Ôxtrâylia lấy hoạt động vui chơi làm trung tâm và phát huy tối đa năng lực, tư duy của trẻ, các kế hoạch được xây dựng dựa theo Luật và quyền trẻ em “trẻ em đựơc an toàn thì trẻ học tốt hơn”.
Một trong các tiêu chuẩn đánh giá 11 chất lượng trường mầm non ở Australia đó là “sức khỏe và an toàn của trẻ” (Childrens health and safety) (Tạp chí GDMN, 2015). Tại Nga, hệ thống giáo dục Liên Bang Nga đã có tiến trình phát triển tích cực theo hướng hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế, các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục mầm non luôn tìm tòi các phương pháp, hình thức và các nguồn lực giáo dục để đảm bảo mọi trẻ đều phát triển toàn diện, tăng cường sức khỏe và được giáo dục về cuộc sống khỏe mạnh. Việc học tập vui chơi của trẻ không chỉ giúp trẻ giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi về thần kinh và cơ bắp mà còn tăng cường chức năng của hệ thần kinh trung ương, hình thành cảm xúc tích cực, làm giảm sự lo lắng và kích thích hoạt động của não, tăng cường sức khỏe tâm sinh lý (Tạp chí GDMN, 2017). Có thể thấy rằng, ở các quốc gia trên thế giới, trẻ em luôn được quan tâm bảo vệ trong mọi môi trường một cách cao nhất, tuy chưa có công trình nghiên cứu nào cụ thể về phòng tránh TNTT và quản lí hoạt động phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường mầm non.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Vấn đề phòng tránh TNTT cho trẻ và công tác quản lí hoạt động phòng tránh TNTT cho trẻ mầm non tại Việt nam đã có nhiều nhà nghiên cứu. Có thể kể đến công trình nghiên cứu của Tác giả Ngô Thị Thanh Huyền với sáng kiến kinh nghiệm Công tác quản lí hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non. Đề tài đã đề cập đến vấn đề lý luận các khái niệm thương tích, tai nạn. Vai trò phòng chống tai nạn thương tích đối với sự phát triển của trẻ.
Theo tác giả phòng chống tai nạn thương tích có vai trò quan trọng đến sự phát triển toàn diện về mặt nhân cách cho trẻ. Giúp cơ thể trẻ được khỏe mạnh, không bị tổn thương về da thịt, trẻ được vận động nhanh nhẹn, bình thường. Không những thế còn giúp trẻ phát triển về mặt nhận thức, ngôn ngữ, phát triển về mặt tình cảm xã hội, thẩm mỹ. Tác giả đề cập những giải pháp để thực hiện công tác phòng tránh tai nạn thương tích đối với trẻ (Ngô Thị Thanh Huyền, 2014).
Luận văn Thạc sĩ Quản lí giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo với đề tài Quản lí hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm 12 non Sơn Ca 10 quận Phú Nhuận, TP. Tác giả đã tập trung vào nhiệm của trọng tâm của đề tài là nghiên cứu các biện pháp áp dụng cho công tác quản lí hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non. Luận văn đã xây dựng một hệ thống 5 biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng quản lí hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ chủ yếu tập trung đến vấn đề an toàn cho trẻ trong hoạt động vui chơi tại trường. Trong đó nếu rõ việc hoạt động phòng tránh TNTT cho trẻ và nâng cao công tác quản lí hoạt động phòng tránh TNTT cho trẻ là một tiêu chí quan trọng trong giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ (Nguyễn Thị Phương Thảo, 2015).
Những tài liệu nghiên cứu của những tổ chức, cơ quan quản lí trường mầm non như: “Chương trình chăm sóc giáo dục mẫu giáo và hướng dẫn thực hiện 5- 6 tuổi”, Bộ GD&ĐT; “Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (Theo nội dung đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục)”, (Bộ giáo dục và Đào tạo, 2006), “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lí và giáo viên mầm non”, (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017). Ngoài những nội dung chỉ đạo, nghiên cứu về công tác quản lí trường mầm non nói chung, các công trình, tài liệu trên đề ít nhiều đề cập đến công tác quản lí hoạt động phòng tránh TNTT cho trẻ tại trường mầm non. Vai trò, trách nhiệm, biện pháp đối với người quản lí trường mầm non đối với vấn đề phòng tránh TNTT cho trẻ. Công tác bảo vệ, chăm sóc và hoạt động phòng tránh TNTT cho trẻ được xem là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của nước ta, đặc biệt là ngành Giáo dục - Đào tạo rất xem trọng.
Ngành giáo dục đã ra nhiều văn bản chỉ đạo hướng dẫn thực hiện và tăng cường công tác quản lí hoạt động phòng tránh TNTT cho trẻ tại các trường mầm non. Những văn bản chỉ đạo là cơ sở để đánh giá chất lượng của đơn vị đó đối với vấn đề trên. Đồng thời bảo vệ quyền lợi, đảm bảo công tác quản lí của ngành GDMN đối với hoạt động phòng tránh TNTT và công tác quản lí an toàn cho trẻ mầm non trong các trường mầm non. Có thể kể đến những văn bản như: Luật số 25/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Quốc hội, 2004).
Quyết định số 58/2008/QĐ-BGDĐT ban hành về hoạt động y tế trong các cơ sở giáo dục mầm non (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2008). 13 Thông tư 13/2012/TT-BGDĐT về xây dựng trường học an toàn phòng tránh TNTT (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2012). Chỉ thị 505/CT-BGDĐT tới các Sở GD&ĐT nhằm tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn trong các cơ sở giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017). Như vậy, vấn đề phòng tránh TNTT cho trẻ mầm non được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu bởi tầm quan trọng của nó đối với cộng đồng vì trẻ em là tương lai của một đất nước.
Thế nhưng mỗi công trình nghiên cứu trên chỉ tập trung nghiên cứu ở góc độ tổng thể hoặc chỉ đề cập đến những khía cạnh khác nhau trong công tác phòng tránh TNTT cho trẻ như: an toàn trong vui chơi, học tập, sức khỏe. Đây là nguồn tài liệu để tác giả có cái nhìn tổng quát, hệ thống, khách quan vấn đề nghiên cứu, tránh trùng lặp. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu đến vấn đề quản lí hoạt động phòng tránh TNTT ở các trường mầm non quận Tân Bình, TP. Vì vậy, đây là đề tài có ý nghĩa về mặt lý luận, mang tính thực tiễn cao.
Một số khái niệm cơ bản 1. Tai nạn thương tích Tai nạn thương tích là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn do một tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thương, thương tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn của con người. Hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích Hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích: là thực hiện hành động để tránh được những sự cố, tác động bên ngoài mang tính nguy hiểm lên thân thể và tạo được tâm thế thoải mái. Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí trường mầm non Quản lí là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động, con người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt động với những mục đích chung nào đó.
Có thể nói quản lí là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó.Marx đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản 14 xuất,. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (Nguyễn Văn Lê, 1983). Điều đó cho thấy rằng hoạt động quản lí bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động của xã hội loài người, nhằm đạt mục đích nhất định. Đây chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tố chức phối họrp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng để đạt mục tiêu đề ra.
Có nhiều tác giả với những phát biểu khác nhau về quản lí, cụ thể như: W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu: “Quản lí là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất và rẻ nhất” (Hà Sĩ Hồ, 1994).Koonts cho rằng: “Quản lí là một hoạt động thiết yểu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm.