phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án có cấu trúc gồm 5 chương, 19 tiết. 14 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu về hợp tác và kĩ năng hợp tác Khi cùng sống trong một xã hội, sự trợ giúp lẫn nhau đã giúp con người thỏa mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần và giải quyết được các vấn đề tranh chấp. Sự hợp tác được nhắc đến như sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết giai cấp, đoàn kết thế giới.
Từ rất lâu các nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học trên thế giới đã chú trọng đến năng lực làm việc cùng nhau của con người. Trong Luận cương về Feuerbach (1845), Marx đã chỉ ra bản chất của con người: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [48, tr. Luận điểm này chỉ ra rằng con người luôn nằm trong mối quan hệ phức tạp với những người xung quanh, hơn nữa con người trong xã hội luôn có sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. Lý thuyết xã hội của ông là cơ sở quan trọng để hình thành các học thuyết giáo dục nhân cách cho con người xã hội.
Kurt Lewin (1948), Resolving social conflicts: Selected papers on Group Dynamics (Giải quyết xung đột xã hội: Các bài viết được chọn về Động lực nhóm), với thuyết Tương tác xã hội (hay thuyết Động lực nhóm), tác giả cho rằng mục tiêu mà một người đặt ra cho mình chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tiêu chuẩn xã hội của nhóm mà người đó thuộc về hoặc mong muốn thuộc về [116, tr. Mỗi cá nhân trong nhóm sẽ có ảnh hưởng qua lại với nhau, khi mọi người trong nhóm cùng tập hợp lại vì mục đích chung mà làm việc thì chỗ dựa chính là sức mạnh của sự đoàn kết. John Thibaut và Harold Kelly (1959), Social psychology in groups (Tâm lý xã hội theo nhóm), các tác giả đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa các cá nhân trong nhóm nhỏ và nhóm lớn. Từ việc xác định các khái niệm về tương tác, lý giải về phần thưởng và giá trị, các yếu tố nội sinh trong mối 15 quan hệ nhóm, hay mục tiêu của nhóm…, các tác giả đã chỉ ra rằng: “Để thúc đẩy tình bạn, một người không chỉ phải có khả năng cung cấp phần thưởng cho người khác mà còn phải sẵn lòng” [124, tr.
Lý thuyết trao đổi xã hội của Thibaut và Kelly xuất hiện từ 1956, nhấn mạnh đến sự trao đổi “phần thưởng” giữa các thành viên trong một nhóm, bất kể là vật chất hay tinh thần, nhằm làm cho đối phương cảm thấy hài lòng. Homans (1958), trong bài viết “Social behavior as Exchange” (Hành vi xã hội như một cuộc trao đổi), ông cho rằng, con người trong một nhóm có các hành vi tương tác giống như một sự trao đổi “hàng hóa”, kể cả sự chấp thuận và uy tín [111, tr. Ở đây, tác giả muốn nói rằng sự tương tác giữa các cá nhân trong một nhóm là sự cho đi và nhận lại, đôi khi chưa phải là để làm điều tốt cho tập thể, mà trước tiên là vì những điều bản thân mong muốn nhận được, kể cả là được chấp thuận và được tín nhiệm. Lý thuyết trao đổi xã hội của Homans có phần nhấn mạnh tính cá nhân hơn so với Thibaut và Kelly, đây chính là nhu cầu cũng là động lực để hợp tác một tác tự nguyện.
Tác giả William Glasser (1997), A New Look at School Failure and School Success (Một cái nhìn mới về thất bại ở trường học và thành công ở trường học), với thuyết Nhu cầu, tác giả cho rằng: Con người có 04 nhu cầu tâm lý thúc đẩy ý thức cá nhân thực hiện các hoạt động cộng đồng: nhu cầu hữu nghị (tình bạn), nhu cầu sức mạnh (tự tôn), nhu cầu tự do và nhu cầu khoái lạc. Mỗi nhu cầu đều có vai trò riêng, nếu được thỏa mãn sẽ làm cho chúng ta cảm thấy vui vẻ [107, tr. Ở Việt Nam, tác giả Ngô Công Hoàn (1997), Tâm lý học xã hội trong quản lý, đã chỉ ra rằng: “Để thỏa mãn nhu cầu xã hội, con người phải hợp tác cùng nhau hoạt động. Sự hợp tác cùng nhau hoạt động, tạo thành sức mạnh tổng hợp qua phân công lao động hợp lý - là đặc điểm của mọi nhu 16 cầu xã hội.
Không có sự hợp tác lao động cùng nhau sẽ không có sản phẩm, đối tượng thỏa mãn nhu cầu…” [29, tr. Theo đó, xuất phát từ nhu cầu của các nhóm xã hội, cộng đồng, mọi người hợp tác cùng nhau lao động để thỏa mãn nhu cầu. Được học tập cùng với bạn, hợp tác để cùng nhau chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng là một nhu cầu chính đáng của học sinh. Vậy để duy trì mối quan hệ bạn học, giữa người học với nhau cần có những kĩ năng xã hội cần thiết, trong đó có KNHT.
Bàn về kĩ năng hợp tác, tác giả Nguyễn Thanh Bình (2001), Chuyên đề giáo dục kĩ năng sống, đã đề cập đến kĩ năng này như một kĩ năng sống không thể thiếu được trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ. Tác giả làm rõ đặc tính của kĩ năng sống, trong đó “kĩ năng sống bao hàm kĩ năng xã hội - là khả năng thiết lập, duy trì, củng cố các mối tương tác xã hội” [5, tr. Nghiên cứu về KNHT của trẻ mầm non có thể kể đến các tác giả như: Theo Nguyễn Ánh Tuyết (1987), Giáo dục trẻ mẫu giáo trong nhóm bạn bè [87], bước sang tuổi mẫu giáo, do ở trẻ bắt đầu xuất hiện nhu cầu chơi cùng, kết bạn nên xuất hiện “xã hội trẻ em”. Những mối quan hệ trong “xã hội trẻ em” ảnh hưởng không nhỏ đến những phẩm chất nhân cách đang được hình thành ở lứa tuổi này, xã hội này có đặc trưng là tính hợp tác, nhưng không đồng nghĩa với việc trẻ biết cách hợp tác với bạn.
Dưới góc độ tâm lý, trong luận án Một số đặc điểm giao tiếp trong nhóm chơi không cùng độ tuổi, tác giả Lê Xuân Hồng (1996) đã chọn lựa các trò chơi như trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi xây dựng - lắp ghép, trò chơi học tập, trò chơi vận động để tìm hiểu mức độ tích cực chủ động hợp tác giữa trẻ không cùng độ tuổi với nhau. Tác giả khẳng định, quan hệ giữa trẻ với nhau được mở rộng, tạo ra nhiều tình huống kích thích trẻ giao tiếp, hợp tác với nhau, thúc đẩy nhanh sự hình thành, phát triển nhân cách [31]. 17 Trong các bài báo “Những biểu hiện kĩ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong các hoạt động của trường mầm non” (2016) [57], “Kĩ năng hợp tác và các giai đoạn hình thành kĩ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo” (2018) [59], tác giả Vũ Thị Nhân đã làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về KNHT của trẻ 5 đến 6 tuổi ở trường mầm non. Ngoài ra, còn có nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả khác xoay quanh vấn đề hợp tác, KNHT mà trong phần tổng quan này chưa nhắc tới.
Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu kể trên đã cho thấy vấn đề hợp tác, KNHT là một vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học và dạy học ở nhà trường. Các nghiên cứu về giáo dục kĩ năng hợp tác Giáo dục hướng tới hình thành KNHT cho con người đã được biết tới từ rất sớm. Trên thế giới đã có rất nhiều học thuyết giáo dục đề cao sự hợp tác trong quá trình dạy và học. Các học thuyết điển hình có thể kể đến như: Albert Bandura (1963), Social Learning and Personality Development (Học tập xã hội và phát triển nhân cách), với thuyết Học tập xã hội, tác giả cho rằng mọi người có thể học tập lẫn nhau, thông qua quan sát bắt chước và mô hình hóa, thông qua quan sát hành vi, thái độ và kết quả hành vi của người khác [102].
Lev Semyonovich Vygotsky (1978), Mind in society: The development of higher psychological processes (Tư duy trong xã hội: Sự phát triển của các quá trình tâm lý cấp cao), với thuyết Văn hóa - lịch sử, tác giả cho rằng mọi chức năng tâm lý cấp cao đều có nguồn gốc xã hội và xuất hiện trước hết ở cấp độ liên cá nhân trước khi chuyển vào trong và ở cấp độ nội cá nhân. Vygotsky còn đưa ra khái niệm và xây dựng lý thuyết về vùng phát triển gần, tác giả cho rằng “những gì trẻ em có thể làm với sự hỗ trợ của người khác có thể theo một nghĩa nào đó, thậm chí còn cho thấy sự phát triển tinh thần của chúng nhiều hơn những gì chúng có thể làm một mình” [126, tr. Dạy học chỉ có hiệu quả khi tác động của nó nằm ở vùng phát triển gần của học sinh, phải kích 18 thích quá trình vận động chuyển hoạt động vào bên trong của đứa trẻ. Quá trình này chỉ xảy ra trong mối quan hệ với những người xung quanh hay sự hợp tác với bạn bè [126, tr.
Vygotsky đã đề cao vai trò của yếu tố xã hội, việc đưa đứa trẻ vào một xã hội thu nhỏ sẽ giúp chúng học cách hợp tác. Jean Piaget (1985), The equilibration of cognitive structures: The central problem of Intellectual Development (tạm dịch: Sự cân bằng của cấu trúc nhận thức: Vấn đề trung tâm của sự phát triển trí tuệ), với thuyết Sự phát triển nhận thức, tác giả giải thích sự phát triển của nhận thức là tổng hợp của bốn nhân tố: sự chín muồi của các giác quan sinh học, kinh nghiệm, sự chuyển giao xã hội và sự cân bằng. Trong đó, yếu tố sự cân bằng là quan trọng nhất [121, tr. Piaget còn nhấn mạnh đến yếu tố tương tác và chuyển giao xã hội trong quá trình phát triển trí tuệ cá nhân.
Theo ông, học sinh cần tương tác với giáo viên và bạn học để kiểm tra tư duy của mình, để được thử thách, để nhận phản hồi và để xem người khác giải quyết vấn đề như thế nào, từ đó dẫn đến sự phát triển nhận thức.S và Brown, A (1984), Reciprocal Teaching of Comprehension-Fostering and Comprehension-Monitoring Activities (Các hoạt động Dạy học lẫn nhau nhằm Thúc đẩy toàn diện và Giám sát toàn diện), các tác giả đã đưa ra lý thuyết về Dạy học lẫn nhau, nhấn mạnh đến quy trình mà vai trò của người dạy được dịch chuyển sang phía người học [119, tr. Kết quả là người học trở thành “người thầy giáo nhỏ” để dạy lại các bạn trong nhóm tương tác. Lý thuyết này mở ra hướng tiếp cận mới về sự đa dạng hóa vai trò của người học trong quá trình tương tác lẫn nhau.