Nghiên Cứu Sự Tiếp Nhận Và Biểu Đạt Hành Động Cầu Khiến Của Trẻ Thiểu Năng Ngôn Ngữ (3-6 Tuổi)

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự tiếp nhận và biểu đạt hành động cầu khiến của trẻ thiểu năng ngôn ngữ từ 3 đến 6 tuổi, góp phần phát triển giáo dục.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

330
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Hành Động Cầu Khiến Ở Trẻ 3 6 Tuổi

Nghiên cứu hành động cầu khiến (HĐCK) ở trẻ 3-6 tuổi là một lĩnh vực quan trọng trong phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp, mà còn là phương tiện để trẻ thể hiện nhu cầu, mong muốn và tương tác xã hội. Đặc biệt, với trẻ thiểu năng ngôn ngữ (TNNN), việc nắm bắt và sử dụng HĐCK gặp nhiều khó khăn. Nghiên cứu này nhằm mục đích làm rõ khả năng tiếp nhận và biểu đạt HĐCK của trẻ TNNN, từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp phù hợp. Theo Lê Thị Tố Uyên trong luận án của mình, "trong cuộc sống hàng ngày và trong học tập của trẻ, việc sử dụng hành động cầu khiến đóng vai trò rất quan trọng, giúp trẻ bộc lộ nhu cầu, tình cảm, cảm xúc, thái độ". Việc đánh giá và hỗ trợ phát triển kỹ năng này đóng vai trò then chốt trong quá trình hòa nhập và phát triển toàn diện của trẻ. Các nghiên cứu trước đây tập trung chủ yếu vào rối loạn ngôn ngữ nói chung, ít có nghiên cứu chuyên sâu về HĐCK ở trẻ TNNN.

1.1. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu Hành Vi Giao Tiếp

Nghiên cứu hành vi giao tiếp của trẻ, đặc biệt là hành động cầu khiến, giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển xã hội và phát triển trí tuệ của trẻ. HĐCK cho phép trẻ tác động đến môi trường xung quanh, bày tỏ nhu cầu và mong muốn, từ đó xây dựng các mối quan hệ. Với trẻ thiểu năng ngôn ngữ, việc hạn chế về ngôn ngữ có thể dẫn đến khó khăn trong giao tiếp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự tự tin và khả năng hòa nhập. Các nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp cho thấy việc can thiệp sớm và phù hợp có thể cải thiện đáng kể khả năng giao tiếp của trẻ. Việc hiểu rõ cơ chế tiếp nhận và biểu đạt hành động cầu khiến sẽ góp phần vào việc xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả hơn.

1.2. Tổng Quan Về Thiểu Năng Ngôn Ngữ và Hành Động Cầu Khiến

Thiểu năng ngôn ngữ là một dạng rối loạn ngôn ngữ ảnh hưởng đến khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ của trẻ. Trẻ em 3-6 tuổi là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển ngôn ngữ. Hành động cầu khiến là một loại hành vi ngôn ngữ nhằm yêu cầu, đề nghị hoặc xin phép ai đó làm gì đó. HĐCK đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ đạt được mục tiêu và tương tác với người khác. Do hạn chế về ngôn ngữ, trẻ TNNN thường gặp khó khăn trong việc sử dụng HĐCK một cách hiệu quả. Việc nghiên cứu HĐCK ở trẻ TNNN giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những khó khăn mà trẻ gặp phải, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp.

II. Vấn Đề Thách Thức Tiếp Nhận Cầu Khiến Ở Trẻ TNNN

Một trong những thách thức lớn nhất đối với trẻ thiểu năng ngôn ngữ là khả năng tiếp nhận ngôn ngữ. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc hiểu các hành động cầu khiến phức tạp. Ngôn ngữ tiếp nhận yếu có thể khiến trẻ hiểu sai ý định của người nói, dẫn đến phản ứng không phù hợp. Thêm vào đó, sự đa dạng trong cách diễn đạt HĐCK (trực tiếp, gián tiếp) càng gây khó khăn cho trẻ. Theo luận án của Lê Thị Tố Uyên, trẻ TNNN gặp khó khăn trong việc "tiếp nhận và biểu đạt hành động cầu khiến khi tương tác với giáo viên và bạn bè cùng trang lứa trong môi trường trường học". Do đó, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận HĐCK và tìm ra các phương pháp hỗ trợ hiệu quả là vô cùng cần thiết. Điều này góp phần cải thiện đáng kể kỹ năng giao tiếp và hòa nhập xã hội của trẻ.

2.1. Ảnh Hưởng của Khiếm Khuyết Thính Giác Đến Khả Năng Ngôn Ngữ

Với trẻ khiếm thính, khả năng tiếp nhận ngôn ngữ bị ảnh hưởng trực tiếp do hạn chế về thính giác. Việc nghe kém có thể dẫn đến việc bỏ lỡ các thông tin quan trọng trong câu nói, đặc biệt là các sắc thái ngữ điệu và ngữ cảnh giúp giải mã hành động cầu khiến. Ngay cả khi đã được hỗ trợ bằng máy trợ thính hoặc cấy điện cực ốc tai, trẻ vẫn cần thời gian để làm quen và phát triển khả năng phát triển ngôn ngữ như trẻ bình thường. Các chương trình can thiệp sớm cần tập trung vào việc phát triển kỹ năng nghe và hiểu ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính.

2.2. Tác Động Của Khe Hở Môi Vòm Miệng Đến Phát Âm và Giao Tiếp

Khe hở môi vòm miệng có thể ảnh hưởng đến khả năng phát âm và biểu đạt ngôn ngữ của trẻ. Khó khăn trong việc phát âm có thể khiến trẻ ngại giao tiếp, dẫn đến hạn chế trong việc thực hành và phát triển kỹ năng giao tiếp. Điều này cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng ngôn ngữ biểu đạt của trẻ, khiến trẻ khó diễn đạt hành động cầu khiến một cách rõ ràng và hiệu quả. Cần có sự phối hợp giữa các chuyên gia ngôn ngữ, bác sĩ và phụ huynh để giúp trẻ vượt qua những khó khăn này.

III. Phương Pháp Can Thiệp Phát Triển Hành Động Cầu Khiến

Có nhiều phương pháp can thiệp khác nhau có thể được sử dụng để phát triển khả năng tiếp nhận và biểu đạt hành động cầu khiến cho trẻ thiểu năng ngôn ngữ. Các phương pháp này thường bao gồm các hoạt động trò chơi, bài tập thực hành và các kỹ thuật hỗ trợ giao tiếp. Việc lựa chọn phương pháp can thiệp phù hợp cần dựa trên đánh giá cá nhân về khả năng và nhu cầu của từng trẻ. Theo nghiên cứu của Lê Thị Tố Uyên, "việc nghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ của trẻ này và đưa ra những hướng giáo dục, can thiệp là một điều hết sức cần thiết". Quan trọng nhất là tạo ra một môi trường giao tiếp tích cực và hỗ trợ, nơi trẻ cảm thấy thoải mái và được khuyến khích sử dụng ngôn ngữ.

3.1. Sử Dụng Trò Chơi và Hoạt Động Vui Chơi Để Học Ngôn Ngữ

Trò chơi và các hoạt động vui chơi là một cách hiệu quả để giúp trẻ học và thực hành ngôn ngữ. Các trò chơi có thể được thiết kế để khuyến khích trẻ sử dụng hành động cầu khiến trong các tình huống khác nhau. Ví dụ, trẻ có thể chơi trò "xin đồ chơi" để thực hành việc yêu cầu người khác cho mượn đồ chơi. Các hoạt động vui chơi như đóng kịch cũng có thể giúp trẻ hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Điều này giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên và thú vị.

3.2. Kỹ Thuật Mô Hình Hóa và Hướng Dẫn Giao Tiếp cho Trẻ

Kỹ thuật mô hình hóa là một phương pháp can thiệp trong đó người lớn (cha mẹ, giáo viên, chuyên gia) cung cấp các ví dụ về cách sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác và hiệu quả. Hướng dẫn giao tiếp bao gồm việc cung cấp cho trẻ những gợi ý và hỗ trợ trong quá trình giao tiếp, giúp trẻ diễn đạt ý tưởng của mình một cách rõ ràng hơn. Ví dụ, khi trẻ muốn xin một món đồ chơi, người lớn có thể mô hình hóa bằng cách nói: "Con muốn cái này, con xin bạn cho con mượn nhé". Kỹ thuật này giúp trẻ học cách sử dụng hành động cầu khiến một cách hiệu quả và tự tin hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Về Can Thiệp Ngôn Ngữ

Các nghiên cứu về can thiệp ngôn ngữ cho thấy rằng việc can thiệp sớm và phù hợp có thể cải thiện đáng kể khả năng tiếp nhận và biểu đạt hành động cầu khiến cho trẻ thiểu năng ngôn ngữ. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc kết hợp nhiều phương pháp can thiệp khác nhau (ví dụ: trò chơi, mô hình hóa, hướng dẫn giao tiếp) mang lại hiệu quả cao hơn. Theo Lê Thị Tố Uyên, cần "xây dựng cơ sở thực chứng (thông qua việc đề xuất, thực nghiệm biện pháp) để các nhà nghiên cứu giáo dục định hướng nội dung, phương pháp phát triển ngôn ngữ, giao tiếp cho trẻ khuyết tật một cách hiệu quả". Việc đánh giá thường xuyên tiến trình của trẻ là rất quan trọng để điều chỉnh phương pháp can thiệp và đảm bảo rằng trẻ đang tiến bộ.

4.1. Đánh Giá Khả Năng Ngôn Ngữ Hiện Tại Của Trẻ

Trước khi bắt đầu bất kỳ chương trình can thiệp nào, việc đánh giá ngôn ngữ hiện tại của trẻ là rất quan trọng. Đánh giá này cần bao gồm việc xác định khả năng tiếp nhận và biểu đạt hành động cầu khiến của trẻ trong các tình huống khác nhau. Kết quả đánh giá sẽ giúp các chuyên gia và phụ huynh xác định mục tiêu can thiệp phù hợp và lựa chọn các phương pháp can thiệp hiệu quả nhất. Việc đánh giá nên được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực rối loạn ngôn ngữ.

4.2. Thiết Lập Mục Tiêu Can Thiệp Ngôn Ngữ Phù Hợp

Dựa trên kết quả đánh giá, cần thiết lập các mục tiêu can thiệp cụ thể, có thể đo lường được, có thể đạt được, liên quan và có thời hạn (SMART). Các mục tiêu can thiệp cần tập trung vào việc cải thiện khả năng tiếp nhận và biểu đạt hành động cầu khiến của trẻ trong các tình huống giao tiếp hàng ngày. Ví dụ, một mục tiêu có thể là: "Trong vòng 3 tháng, trẻ sẽ có thể yêu cầu người khác cho mượn đồ chơi một cách rõ ràng và hiệu quả trong 80% số lần". Các mục tiêu can thiệp cần được điều chỉnh thường xuyên dựa trên tiến trình của trẻ.

V. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Hành Động Cầu Khiến Tương Lai

Nghiên cứu về hành động cầu khiếntrẻ thiểu năng ngôn ngữ là một lĩnh vực đầy tiềm năng. Kết quả của các nghiên cứu này có thể giúp cải thiện đáng kể khả năng giao tiếp và hòa nhập xã hội của trẻ. Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu tập trung vào việc phát triển các phương pháp can thiệp hiệu quả hơn và đánh giá tác động của các phương pháp này trong dài hạn. Theo Lê Thị Tố Uyên, "cần xây dựng cơ sở thực chứng (thông qua việc đề xuất, thực nghiệm biện pháp) để các nhà nghiên cứu giáo dục định hướng nội dung, phương pháp phát triển ngôn ngữ, giao tiếp cho trẻ khuyết tật một cách hiệu quả, đồng thời giúp trẻ xóa bỏ rào cản tâm lí và hòa nhập cộng đồng".

5.1. Tầm Quan Trọng Của Sự Phối Hợp Giữa Gia Đình Và Nhà Trường

Sự phối hợp chặt chẽ giữa cha mẹgiáo viên là rất quan trọng để đảm bảo rằng trẻ nhận được sự hỗ trợ nhất quán và hiệu quả. Cha mẹ có thể thực hành các kỹ năng giao tiếp với trẻ tại nhà, trong khi giáo viên có thể cung cấp các hoạt động và bài tập thực hành tại trường. Việc trao đổi thông tin thường xuyên giữa cha mẹgiáo viên sẽ giúp điều chỉnh phương pháp can thiệp và đảm bảo rằng trẻ đang tiến bộ.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Mới Ứng Dụng Công Nghệ Vào Can Thiệp

Trong tương lai, ứng dụng công nghệ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc can thiệp và hỗ trợ trẻ thiểu năng ngôn ngữ. Các ứng dụng và phần mềm có thể được thiết kế để giúp trẻ thực hành các kỹ năng giao tiếp, cải thiện khả năng hiểu ngôn ngữ và phát triển kỹ năng giao tiếp. Ví dụ, các ứng dụng có thể sử dụng hình ảnh, âm thanh và video để giúp trẻ hiểu rõ hơn về các hành động cầu khiến khác nhau. Nghiên cứu về hiệu quả của các ứng dụng công nghệ trong việc can thiệp ngôn ngữ cho trẻ TNNN là một lĩnh vực đầy hứa hẹn.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự tiếp nhận và biểu đạt hành động cầu khiến của trẻ thiểu năng ngôn ngữ 3 6 tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có cấu trúc gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan và cơ sở lí thuyết liên quan đề tài Chương 2. Sự tiếp nhận hành động cầu khiến của trẻ thiểu năng ngôn ngữ (3-6 tuổi) Chương 3. Sự biểu đạt hành động cầu khiến của trẻ thiểu năng ngôn ngữ (3-6 tuổi) 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI Chƣơng này tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về sự tiếp nhận và biểu đạt lời nói, HĐ ngôn từ và HĐCK của trẻ em nói chung và trẻ TNNN nói riêng, đồng thời giới thiệu một số lí thuyết nền tảng của luận án nhƣ: lí thuyết hội thoại và HĐ ngôn từ, HĐCK, lí thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất của trẻ em và đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ TNNN (gồm trẻ KT và trẻ bị KHMV). Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu trên thế giới về sự tiếp nhận, biểu đạt lời nói, hành động ngôn từ và hành động cầu khiến 1. Nghiên cứu sự tiếp nhận và biểu đạt lời nói Việc nghiên cứu sự tiếp nhận và biểu đạt lời nói nổi bật nhất là hai quan điểm của các nhà nghiên cứu Mỹ và Liên Xô (cũ) với hai cơ sở lí luận tâm lí học khác nhau: hƣớng tâm lí học hành vi và hƣớng tâm lí học hoạt động.

 Nghiên cứu sự tiếp nhận lời nói: Từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu tiền tâm lí ngôn ngữ học của H. đã trình bày một số kết quả nghiên cứu về sự tiếp nhận lời nói. Song phải đến cuối những năm 60, đầu những năm 70 của thế kỉ XX, những nghiên cứu sâu về vấn đề này mới phát triển mạnh mẽ, gắn với tên tuổi của nhiều nhà tâm lí ngôn ngữ học ở nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó đáng chú ý nhất là các nhà nghiên cứu Mỹ nhƣ: R. và các nhà nghiên cứu Liên Xô nhƣ: L.

Đặc điểm rõ nhất của các nghiên cứu về tiếp nhận lời nói ở các tác giả Mỹ là dựa trên các quan điểm của tâm lí học hành vi và quan niệm coi ngôn ngữ là cái bẩm sinh. Còn các nhà nghiên cứu Liên Xô là dựa trên quan điểm tâm lí học hoạt động và quan niệm coi ngôn ngữ là cái tự tạo [40]. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.tuoi)  Nghiên cứu sự biểu đạt lời nói: Nghiên cứu về sự sản sinh hay biểu đạt lời nói cũng ngày càng nổi bật trong giao tiếp ngôn ngữ cùng với sự phát triển ngày càng chuyên sâu của tâm lí ngôn ngữ học. Nghiên cứu về biểu đạt lời nói dựa trên cơ sở tâm lí học hành vi đƣợc phát triển rất mạnh ở Mỹ, dƣới một tên chung là ngữ pháp tạo sinh.

Về thực chất, ngữ pháp tạo sinh mới dừng lại ở cấp độ cú pháp, tức mức độ tạo sản câu nói. Các tác giả có nhiều thành công trong lĩnh vực này là Ch. Những nghiên cứu về sản sinh lời nói dựa trên cơ sở tâm lí học hoạt động đƣợc phát triển rất mạnh ở Liên Xô, với một cơ sở lí luận khoa học, duy vật và biện chứng. Vấn đề sản sinh lời nói đƣợc xem xét khá toàn diện và đầy đủ.

Theo hƣớng nghiên cứu này, các tác giả có nhiều thành công trong xây dựng mô hình sản sinh lời nói là L. Điều nổi bật trong các mô hình của các tác giả này là tính đến các đặc điểm tiền ngôn ngữ, ngoài ngôn ngữ, các nhân tố tâm lí cá nhân và tính tích cực của ngƣời mang ngôn ngữ trong quá trình sản sinh lời nói [40], [62]. Phát triển tƣ tƣởng tâm lí học hoạt động vào giải quyết các vấn đề của ngôn ngữ và lời nói, L.Vygotsky đã chỉ ra bản chất của ngôn ngữ và lời nói là hoạt động và chính ông là ngƣời đề xuất mô hình sản sinh lời nói theo quan điểm hoạt động. Kế tục và phát triển quan điểm của L.Vygotsky, nhiều nhà tâm lí học Hoạt động đã xem xét và giải quyết vấn đề sản sinh lời nói khá toàn diện, hợp lí và thống nhất [40].

Nghiên cứu về hành động ngôn từ và hành động cầu khiến của trẻ em Trên thế giới, việc nghiên cứu HĐ ngôn từ của trẻ em cũng đƣợc quan tâm từ rất sớm. Vào những năm 70, 80 của thế kỉ XX, các nghiên cứu tập trung vào chức năng của ngôn ngữ và cách mà trẻ học để sử dụng đƣợc các chức năng ngôn ngữ này vào quá trình tƣơng tác.  Quá trình phát triển HĐ ngôn từ của trẻ: Năm 1975, tác giả Bruner đã miêu tả các HĐ ngôn từ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận ngôn ngữ, cụ thể là ngữ pháp của trẻ nhỏ.tuoi) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.tuoi) tố cơ bản trong sự tƣơng tác giữa mẹ và con đƣợc quan tâm. Khi ngƣời mẹ và đứa trẻ có cùng sự chú ý thì ngƣời mẹ sẽ nói về sự vật nào đó hoặc làm điều gì đó.

Đây đƣợc coi là cơ sở cho việc hình thành các cấu trúc ngữ pháp cơ bản nhƣ sự vật – định danh và sự vật – hành động và đây cũng chính là HĐ ngôn từ đầu tiên mà trẻ tiếp nhận đƣợc gọi là hành động gán nhãn/ định danh [dẫn theo 70]. Gán nhãn/ định danh có thể đƣợc xem nhƣ là một ví dụ cho kiểu HĐ bày tỏ (statements) mặc dù hình thức ban đầu của nó là thực hiện chức năng của HĐ điều khiển (directives). Tác giả Dore đã sử dụng các ý đồ giao tiếp của trẻ nhỏ nhƣ một khung chung trong nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em. Ông đề xuất sử dụng HĐ ngôn từ nhƣ là các đơn vị phân tích trong việc nghiên cứu ngôn ngữ trẻ nhỏ ở giai đoạn trẻ nói tiếng một, đồng thời miêu tả việc trẻ tạo ra các “hành động ngôn từ sơ khai” với phát ngôn tiếng một nhƣ thế nào.

HĐ ngôn từ sơ khai nói đến cái gì đó và kết hợp với một số dấu hiệu khác nhƣ ngữ điệu hay cử chỉ. Với lí thuyết này, tác giả Dore có thể giải thích đƣợc rằng làm thế nào mà một đứa trẻ có thể thể hiện đƣợc hai nghĩa chỉ bằng cách nói một từ đơn lẻ. Ví dụ trẻ chỉ cần nói “bóng” để định danh sự vật, nhƣng nó có thể là một HĐ điều khiển với ý nghĩa là trẻ muốn có sự vật đó [dẫn theo 85]. Theo tác giả Dore [dẫn theo 97, tr.

228], “dƣới 5 tuổi, trẻ thƣờng sử dụng các HĐ ngôn từ sơ khai, gồm: định danh/ gọi tên (labeling), kể lại (repeating), yêu cầu một HĐ (requesting an action), yêu cầu câu trả lời (requesting an answer), gọi (calling), chào hỏi (greeting), phản đối (protesting), vận dụng (practicing)”. Lí thuyết này cũng đƣợc Halliday ủng hộ [dẫn theo 85]. Theo Halliday, có một vài chức năng ngữ dụng sớm ở trẻ. Đầu tiên là chức năng công cụ, ví dụ nhƣ “Tôi muốn, tôi cần” với ý nghĩa là trẻ đang cố gắng nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn.

Tiếp theo là chức năng điều chỉnh ví dụ “hãy làm nhƣ tôi nói với bạn”. Phát ngôn kiểu này có ý nghĩa là trẻ đang cố gắng kiểm soát hành vi của ngƣời khác. Thứ ba là chức năng tƣơng tác liên nhân, ví dụ nhƣ “tôi và bạn”. Với chức năng này, trẻ đang thiết lập và xác định mối quan hệ xã hội và cố gắng tham gia vào giao thiệp xã 16 (LUAN.tuoi) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Chức năng nữa là chức năng cá nhân, ví dụ “Tôi đến đây”. Nghĩa là trẻ thể hiện cá tính hoặc đƣa ra quan điểm, cảm nhận riêng. Tiếp đó là chức năng tƣởng tƣợng, ví dụ “hãy giả vờ”. Ở chức năng này, trẻ dùng các từ ngữ thể hiện khả năng tƣởng tƣợng sáng tạo.

Cuối cùng là chức năng khám phá, nghĩa là trẻ tìm kiếm thông tin. Chức năng này có nghĩa là trẻ cung cấp các thông tin, ví dụ nhƣ “tôi có một vài điều muốn nói với bạn”. Tùy vào từng lứa tuổi và giai đoạn phát triển, trẻ có những HĐ ngôn từ với các chức năng khác nhau. Khi trẻ lớn lên, trẻ sẽ bắt đầu sử dụng các HĐ ngôn từ càng ngày càng phức tạp hơn.

Các nhà nghiên cứu Snow, Pan, Imbens-Bailey & Herman (1996) [dẫn theo 83] chỉ ra rằng khi trẻ 1 tuổi 2 tháng đã sử dụng HĐ điều khiển nhƣ cầu khiến và cũng có thể sử dụng một số HĐ bày tỏ đơn giản và làm chủ đƣợc việc tạo ra lời chào hỏi, đƣa ra câu trả lời. Đến 1 tuổi 8 tháng hầu hết các trẻ đã có thể đáp lại các HĐ điều khiển bằng cách đồng ý hoặc từ chối thực hiện yêu cầu; trẻ cũng có thể sử dụng các HĐ ra lệnh để nêu ý định của mình; trẻ cũng có thể trả lời các câu hỏi có/ không. Khoảng 2 tuổi 8 tháng việc tạo ra các HĐ hỏi với các câu hỏi có/ không và việc đáp lại các HĐ điều khiển mới thể hiện một cách rõ ràng. Từ năm 1978, tác giả Brian P.

Tác giả đã xem xét các cách giải thích của trẻ nhỏ (ở lớp 1 và lớp 3) về nghĩa của HĐ ngôn từ gián tiếp trong các cấu trúc điều khiển không quy ƣớc, đặt trong sự so sánh với ngƣời lớn. Kết quả cho thấy trẻ em cũng nhƣ ngƣời lớn đã giải thích nghĩa theo ngữ cảnh một cách rất nhạy cảm ở các HĐ ngôn từ gián tiếp. Theo nghiên cứu của tác giả Dyah Anita D. HĐ tuyên bố chƣa xuất hiện trong cuộc hội thoại của trẻ.tuoi) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.tuoi) Trong công trình “Trẻ hiểu điệu bộ giao tiếp và HĐ ngôn từ nhƣ thế nào”, tác giả Monica Bucciarelli và cộng sự (2002) [78] đã đƣa ra đề xuất khung giải thích các hiện tƣợng ngữ dụng vốn rất đa dạng.

Đặc biệt, tác giả đã nghiên cứu các khả năng hiểu các hành vi giao tiếp trực tiếp, gián tiếp, HĐ châm biếm, mỉa mai. Nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm trên 160 trẻ, chia làm bốn nhóm, mỗi nhóm 40 trẻ ở các độ tuổi khác nhau (từ 2 tuổi 6 tháng – 3 tuổi, 3 tuổi 6 tháng – 4 tuổi, 4 tuổi 6 tháng – 5 tuổi 6 tháng và 6 – 7 tuổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi dần dần về mức độ khó của các kiểu HĐ ngôn từ và các cử chỉ, điệu bộ giao tiếp. Kết quả cũng cho chúng ta thấy rằng trong mỗi hiện tƣợng, ngƣời tham gia thực hiện tốt nhƣ nhau ở cả HĐ ngôn từ và cả ở cử chỉ, điệu bộ giao tiếp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hành Động Cầu Khiến Của Trẻ Thiểu Năng Ngôn Ngữ (3-6 Tuổi)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hành vi cầu khiến của trẻ em trong độ tuổi từ 3 đến 6, đặc biệt là những trẻ gặp khó khăn về ngôn ngữ. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bậc phụ huynh và giáo viên hiểu rõ hơn về các hành vi này mà còn đưa ra những phương pháp can thiệp hiệu quả để hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ. Những lợi ích mà tài liệu mang lại bao gồm việc nâng cao nhận thức về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, cũng như cung cấp các chiến lược cụ thể để cải thiện khả năng giao tiếp của trẻ.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5 6 tuổi thông qua chơi, nơi cung cấp những phương pháp can thiệp cho trẻ khiếm thị và rối loạn phổ tự kỷ. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả can thiệp trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 24 tháng đến 72 tháng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các đặc điểm lâm sàng và kết quả can thiệp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ. Cuối cùng, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5 6 tuổi làm quen với tiếng anh cũng là một nguồn tài liệu hữu ích để khám phá các phương pháp kích thích hứng thú học tập cho trẻ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ em.