Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Trí tuệ xã hội là một lĩnh vực không chỉ thu hút nhiều người quan tâm nghiên cứu, mà còn là vấn đề đầy hứa hẹn trong các ứng dụng thực tiễn.
Từ đầu thế kỷ XX cho đến nay các nhà khoa học đã tìm kiếm và xác lập cơ sở cho vấn đề trí tuệ nói chung và trí tuệ xã hội nói riêng. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế bởi khái niệm, cấu trúc, cách tiếp cận và đo lường. Theo dòng thời gian, trí tuệ xã hội đã được nghiên cứu như một lĩnh vực độc lập, người nghiên cứu có thể khái quát một số vấn đề lý luận cũng như liệt kê một số công trình nghiên cứu nổi bậc như sau: Thuật ngữ TTXH được sử dụng lần đầu tiên bởi Dewey (1909) và Lull (1911).L Thorndike là người đặt nền móng cho những khái niệm trí tuệ hiện đại. Ông phân chia trí tuệ của con người thành ba khía cạnh gồm: thứ nhất là liên quan đến khả năng hiểu và quản lý ý tưởng (trí tuệ trừu tượng), liên quan đến đối tượng cụ thể (trí tuệ kĩ thuật), đối với con người (trí tuệ xã hội).
Theo Thorndike, TTXH có nghĩa là khả năng hiểu, quản lý đàn ông và phụ nữ, con trai và con gái - để hành động một cách hợp lý trong các mối quan hệ giữa con người với nha. Ông một chút buồn bã cho rằng, không giống như các trắc nghiệm trí tuệ đã có trước đó, các bài kiểm tra trực tiếp về TTXH khó có thể đưa ra được. TTXH bộc lộ trong các hoạt ngoài trời, trên sân chơi, trong doanh trại, nhà máy và nơi bán hàng. nó vượt qua các điều kiện nghiêm ngặt của phòng thí nghiệm, thử nghiệm.
Nó đòi hỏi con người phải đáp ứng thời gian để thích nghi với phản ứng và khuôn mặt, giọng nói, cử chỉ. Tuy nhiên, đúng với các mục tiêu của truyền thống tâm lý học, các nhà nghiên cứu đã nhanh chóng đưa ra các định nghĩa trừu tượng của TTXH và cố gắng hình thành các công cụ có thể chuẩn hóa để đo lường các mối quan hệ khác nhau trong xã hội (Trích trong J. Có thể kể đến một trong những công cụ đầu tiên như là: một phần trắc nghiệm WAIS của D. Wechsler (1939, 1958), ông nhận ra phần sắp xếp thứ tự các bức 8 tranh, có thể được sử dụng như một công cụ để đo lường TTXH vì nó đánh giá khả năng thấu hiểu tình huống xã hội của cá nhân.
Nhưng từ đó, ông quan niệm TTXH chỉ đơn thuần là trí thông minh nói chung được ứng dụng trong các tình huống xã hội. Bài kiểm tra của George Washington (GWSIT) thông qua mối tương quan với người lớn, tình trạng nghề nghiệp, hay bài kiểm tra STAT- Sternberg Triarchic Abilities Test của Sternberg và cộng sự (1993). Tuy nhiên, sau một thời gian dài sử dụng các trắc nghiệm trí tuệ cũng cho thấy các hạn chế là chỉ quan tâm đến kết quả mà không biết đến cách nghiệm thể thực hiện các bài tập đó. Vì vậy, các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm những hướng tiếp cận khác đi sâu vào bản chất trí tuệ hơn.
Một trong những cách tiếp cận được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng đó là tiếp cận tâm lý học. Trong cách tiếp cận này người nghiên cứu cố gắng đưa ra những đặc điểm nổi bậc ở các nhóm khách thể đặc biệt như người lãnh đạo, giáo viên, học sinh năng khiếu. Công cụ nghiên cứu thường là bảng hỏi, bảng tự đánh giá. Có thể kể đến một số công cụ như: Bảng hỏi NEO-FFI để đo ảnh hưởng của di truyền và môi trường tới nhân cách.
Bảng hỏi TTXH của N.K Chadha và Usha Ganesan (1986). Matson Evaluation of Social Skills with Youngsters –MESSY của Matton, Rotatori và Helsel (1983) bao gồm: kỹ năng xã hội phù hợp, sự quyết đoán không phù hợp, tính bốc đồng, tự tin thái quá, sự thất hứa. Social Skills Rating System (SSRS) của Gresham và Elliott (1990) bao gồm kỹ năng xã hội, hành vi có vấn đề, và sự hỗ trợ của phụ huynh. Inventory of social skills của tác giả Lorr, Youniss và Stefic (1991) bao gồm kỹ năng xã hội và các sự thấu cảm.
đây được xem là một trong những phương pháp đơn giản, ít mất thời gian và mang lại những hiệu quả nhất định, nhưng cũng mang lại nhiề tranh cãi vì cho rằng các mô tả đưa ra là chủ quan, ít có tính đại diện và đo lường. Vẫn chưa dừng lại ở đó, ngày nay quan điểm hiện đại cho rằng phải nghiên cứu trí tuệ với tư cách là một hiện tượng tâm lý mang bản chất xã hội. Trí tuệ theo quan điểm mới không chỉ giải quyết nhiệm vụ có tính hàn lâm, mà thể hiện trong việc giải quyết các nhiệm vụ trong đời sống. Do đó, trong cách tiếp cận các nhà nghiên cứu đưa ra mô hình TTXH được xây dựng theo kiểu hỗn hợp, dựa trên sự 9 kết hợp giữa nhận thức xã hội và các năng lực hành vi ứng xử tương ứng.
TTXH có thể đo lường bằng nhiều hình thức khác nhau như tự báo cáo, ngang hàng hoặc các xếp hạng khác, sử dụng tiêu chí hành vi và các biện pháp hiệu suất. Với quan điểm này TTXH đã đưa ra cách thức tiếp cận mang tính cởi mở, dễ hiểu và phù hợp với thực tế so với các cách tiếp cận truyền thống. Điển hình là khi Howard Gardner (1983) cho ra đời tác phẩm “Frames of mind” như là một tuyên ngôn chống lại độc quyền của trí thông minh, chứng minh rằng không có hình thức duy nhất, toàn khối của trí tuệ quyết định thành công trong cuộc đời, đúng hơn có một thang trí tuệ rộng lớn hơn. Goleman (2006) chia trí thông minh xã hội thành hai loại rộng: nhận thức xã hội và cơ sở xã hội.
Ông xác định nhận thức xã hội là những gì chúng ta cảm nhận về người khác và xác định cơ sở xã hội là những gì chúng ta làm gì với nhận thức đó. Hay của các tác giả khác như K. Albrecht, Weis Sub… (Trích trong Kiều Thị Thanh Trà, 2017). Tóm lại, dù có tiếp cận theo phương pháp nào thì các nhà nghiên cứu cũng cần đảm bảo những đặc trưng của trí tuệ nói chung gồm: - Trí tuệ là yếu tố tâm lí có tính độc lập tương đối với các yếu tố tâm lí khác của cá nhân.
- Trí tuệ có chức năng đáp ứng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể với môi trường sống, tạo ra sự thích ứng tích cực của cá nhân. - Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thể. - Sự phát triển của trí tuệ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh học và chịu sự chế ước của yếu tố văn hóa xã hội (Phan Trọng Ngọ, 2001). Ngoài các công trình nghiên cứu lý luận có thể kể đến một số công trình nghiên cứu TTXH với các yếu tố liên quan hay nghiên cứu trên một số nhóm đối tượng đặc thù như là: “Một nghiên cứu về tác động lên trí tuệ cảm xúc và trí tuệ xã hội đối với thành công trong sự nghiệp của các doanh nhân MSME” của Ramanujam Velusamy nghiên cứu 360 mẫu tại 6 thành phố lớn.
Bài viết nghiên cứu phân tích thái độ rủi ro và đặc điểm tính cách của các nhà quản lý phụ nữ làm việc trong thị trường chứng khoán (Ramanujam Velusamy, 2015). 10 “TTXH và một số tính cách của học sinh năng khiếu trường cấp hai chuyên King Abdullah II, Jordan” của Al-Makahleh và A. Mục đích của nghiên cứu này là xác định mối quan hệ nào giữa trí tuệ xã hội và đặc điểm hành vi của học sinh tài năng trong một trường trung học theo quan điểm của giáo viên. Mẫu nghiên cứu bao gồm 200 học sinh nam và nữ, được phân bổ ở ba khu vực; Amman, Al-Nacl và Al-Zaraqa, Jordan.
Thang đo trí thông minh xã hội và thang đo đặc điểm hành vi của sinh viên tài năng cho Renzulli đã được áp dụng trong nghiên cứu. Kết quả chỉ ra rằng không có sự khác biệt về giới tính trên cả thang đo thông minh xã hội và thang đo đặc điểm hành vi. Hơn nữa, kết quả cho thấy rằng sự tương tác là yếu tố duy nhất có ảnh hưởng đáng kể đến việc giải thích từng đặc điểm hành vi của các biến số sáng tạo, lãnh đạo, học tập và tổng điểm của học sinh tài năng (Al-Makahleh and A. Đề tài “TTXH và sự gây hấn của học sinh cuối cấp hai” do Sameer Babu M và J.
Islamia thực hiện trên 84 học sinh trên địa bàn quận Malappuram, Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy TTXH của các em tập trung ở mức trung bình và giữa các em thường xuyên xảy ra các cuộc xung đột, gây hấn. Khi so sánh kết quả theo giới tính cho thấy học sinh nữ có TTXH cao hơn so với học sinh nam. Kết quả này cũng cho thấy mối quan hệ giữa TTXH và sự gây hấn của học sinh cuối cấp hai là tương quan nghịch (Sameer Babu M và J.
Đề tài “So sánh TTXH của trẻ em là con một trong gia đình với trẻ có anh chị em”, được Manisha Goel và Preeti Aggarwal tiến hành trên 40 trẻ là con một và 40 trẻ có anh chị em trong gia đình, hiện đang học lớp 9 và 10 ở khu vực NCR, Ấn Độ. Các tác giả đã đo lường TTXH thông qua 8 mặt biểu hiện bao gồm: sự kiên nhẫn, hợp tác, tự tin, sự nhạy cảm, nhận biết tình huống xã hội, ứng xử khôn khéo, hài hước và trí nhớ xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, TTXH của trẻ có anh chị em cao hơn so với trẻ là con một trong gia đình, đi sâu phân tích từng mặt biểu hiện cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa ở mặt biểu hiện của “sự kiên nhẫn” và “nhạy cảm” (Manisha Goel and Preeti Aggarwal, 2012). Nghiên cứu về “TTXH, lòng tự tôn và tính nhạy cảm trong giao tiếp đa văn hoá” được các nhà nghiên cứu Qingwen Dong Randall J.
Đại 11 học Thái Bình Dương thực hiện năm 2008. Nghiên cứu này được tiến hành trên 419 SV của hai trường đại học ở miền Tây Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy có mối tương quan thuận về mặt thống kê giữa TTXH và tính nhạy cảm trong giao tiếp đa văn hoá; Nghiên cứu này cho thấy trí thông minh xã hội có thể phục vụ như một nền tảng và giúp đỡ tạo điều kiện phát triển giao tiếp đa văn hóa.