CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Thực tiễn “Thực tiễn là những hoạt động của con người trước tiên là lao động sản xuất nhằm tạo điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội” [Theo Từ điển Tiếng Việt] [10]. Thực tiễn là bao gồm những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo, nâng cao tự nhiên và xã hội. Khái niệm nhận thức: Là những tri thức, những am hiểu của con người thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm về thế giới khách quan.
Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, là động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và còn là những tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của quá trình nhận thức: + Thực tiễn đặt ra những nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức và cả khuynh hướng vận động, phát triển của nhận thức. + Hoạt động thực tiễn làm cho các giác quan của con người ngày càng trở lên hoàn thiện, năng lực tư duy lôgic ngày càng được củng cố và phát triển. - Thực tiễn nói cách khác là hoạt động có mục đích của con người: + Suy cho cùng hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản, bản chất của con người. Nói vậy tức là chỉ có con người mới có hoạt động thực tiễn.
Con vật chúng chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài nên chúng không có hoạt động thực tiễn. Ngược lại, chỉ có con người mới có các hoạt động mục đích rõ ràng nhằm thay đổi thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, tích cực với thế giới và làm chủ thế giới. + Con người không thể thỏa mãn với những gì có sẵn trong tự nhiên. Con người muốn nuôi sống chính bản thân mình thì phải tiến hành lao động sản xuất ra làm ra của cải vật chất.
Để lao động hiệu quả, con người phải 8 phát minh, vải tiến các công cụ lao động và sử dụng công cụ lao động một cách có hiệu quả. Chính vì vậy thông qua hoạt động thực tiễn, con người đã cải tạo tự nhiên bằng cách tạo ra những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên bằng các hình thức lao động sản xuất sản khác nhau. Nói chung là, hoạt động thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của sự phát triển, không bằng hoạt động thực tiễn con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Tóm lại, thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới.
- Thực tiễn là hoạt động mang tính lịch sử - xã hội: + Thực tiễn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người mặc dù trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn của con người có biến đổi liên tục qua các giai đoạn lịch sử. Hoạt động thực tiễn đó chỉ có thể được tiến hành trong các quan hệ xã hội. + Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của riêng nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Khi đánh giá về sự phát triển con người và xã hội loài người thì xem xét trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục tự nhiên và làm chủ xã hội của con người.
Như vậy, thực tiễn có tính lịch sử – xã hội cả về nội dung cũng như về phương thức thực hiện. Tình huống thực tiễn Có thể hiểu, tình huống thực tiễn trong dạy học Toán là những tình huống do giáo viên lựa chọn từ những hoạt động của con người, ưu tiên những hoạt động trong lao động sản xuất, chọn lọc, thiết kế phù hợp với mục đích của bài học nhằm hình thành và khắc sâu tri thức toán học cho HS. Những tình huống thực tiễn được vận dụng một cách hợp lí trong việc tổ chức thành các hoạt động cho HS, góp phần thúc đẩy sự tích cực nhận thức khám phá kiến thức, cũng như gợi nhu cầu nhận thức từ bên trong. Mối liên hệ giữa toán học và thực tiễn thể hiện ở các đặc điểm: 9 - Toán học phản ánh thực tiễn: những kiến thức của toán học có khả năng phản ánh thực tiễn một cách đa dạng, toàn diện; - Toán học có ứng dụng trong thực tiễn: toán học có ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ cũng như trong sản xuất và đời sống; chẳng hạn: ứng dụng của đạo hàm để tính vận tốc tức thời của chuyển động, ứng dụng tích phân để tính diện tích, thể tích,… Môn Toán hiện nay đang được xây dựng theo hướng bảo đảm tính tinh giản, thiết thực, hiện đại.
Nội dung chương trình môn Toán phản ánh những giá trị cốt lõi, nền tảng của văn hoá toán học; đồng thời, phản ánh nhu cầu hiểu biết thế giới, khơi dậy hứng thú, sở thích của HS. Chương trình toán học hiện nay được thiết kế song song liên kết chặt chẽ với nhau. Bên cạnh đó có thể khẳng định, chương trình môn Toán hiện nay đã tạo nền tảng cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Chương trình môn Toán được tích hợp xoay quanh ba mạch kiến thức: Số và Đại số; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất.
Môn Toán cũng được phân chia theo hai giai đoạn cụ thể như sau: 1) Giai đoạn 1: Giúp học sinh nắm được hệ thống các lý luận về toán học cần thiết nhất, làm nền tảng cho việc học tập ở các trình độ tiếp theo hoặc có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày được gọi là Giáo dục cơ bản; 2) Giai đoạn 2: Giúp học sinh có cái nhìn tương đối tổng quát về toán học, hiểu được vai trò và ứng dụng vào đời sống thực tế, từ đó HS sẽ định hướng nghề nghiệp. Nó được gọi là Giáo dục định hướng nghề nghiệp. Định hướng giáo dục hiện nay bên cạnh việc chú trọng các nội dung giáo dục cốt lõi, đồng thời trong mỗi năm học, HS có định hướng khoa học tự nhiên và công nghệ được chọn học một số chuyên đề. Các chuyên đề này nhằm tăng cường kiến thức về toán học, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đáp ứng sở thích, nhu cầu và định hướng nghề nghiệp tương lai của HS cho phù hợp với sở trường và sở thích của từng đối tượng học sinh.
GV cũng cần linh hoạt vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để tạo hiệu quả tối 10 đa trong việc dạy và học. Tuỳ mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức dạy học thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ngoài lớp, tránh rập khuôn, máy móc, nhàm chán, lối mòn. Kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành trải nghiệm, học ngoại khóa, học theo chủ điểm, học theo chuyên đề, các câu lạc bộ toán học để giúp học sinh vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn. GV cần giúp HS phát triển niềm tin về vị trí, vai trò tích cực của Toán học đối với đời sống trong xã hội hiện đại, khuyến khích HS phát triển hứng thú, sự sẵn sàng tự học hỏi, tìm tòi, khám phá để thành công khi học môn Toán.
Bài toán thực tiễn 1. Khái niệm Theo các tác giả L. Leontiev thì “bài toán là mục đích đã cho trong những điều kiện nhất định, đòi hỏi người giải toán cần phải hành động, tìm kiếm cái chưa biết trên cơ sở mối liên quan với cái đã biết”. Theo Trần Vui [40], “bài toán là một tình huống đòi hỏi tư duy và sự tổng hợp các kiến thức đã được học trước đó để giải”.
Ngoài ra, bài toán phải được sự chấp nhận của HS. Nếu HS từ chối chấp nhận các thách thức thì thời điểm đó, nó không phải là bài toán cho em HS đó. Tác giả này cũng đã đưa ra các tiêu chí cho một bài toán, đó là: - Chấp nhận: Cá nhân chấp nhận bài toán. Có mối liên hệ mang tính cá nhân với bài toán, mối liên hệ này có thể có được bởi nhiều lí do: Động cơ bên trong, động cơ bên ngoài hay đơn giản chỉ là sự mong muốn thoả mãn sở thích giải toán.
- Cản trở: Những nỗ lực bước đầu của cá nhân để giải bài toán là thất bại. Những đáp ứng và dạng toán quen thuộc để giải bài toán là không có hiệu lực. - Khám phá: Mối quan hệ cá nhân như đã xác định thúc ép cá nhân khám phá những phương án tấn công mới. 11 Theo Nguyễn Bá Kim (2006) [12] thì có thể quan niệm bài toán là một tình huống mà mục tiêu của chủ thể là tìm yếu tố chưa biết nào đó dựa vào một số những yếu tố cho trước ở trong khách thể.
Theo tác giả hiểu, bài toán thực tiễn là bài toán mà trong phần đã cho hay phần cần tìm, cần làm sáng tỏ những nội dung liên quan đến thực tiễn. Hiểu theo tác giả thực tiễn ở đây không chỉ là các sự vật, hiện tượng, tình huống xảy ra trong cuộc sống hằng ngày mà còn là các sự vật, hiện tượng, tình huống nảy sinh trong các môn học khác như: Vật lí, Hóa học, Sinh học,… 1. Vai trò của bài toán thực tiễn trong dạy học Trong dạy học Toán, bài toán thực tiễn có vai trò rất quan trọng, cụ thể: + Bằng cách tìm hiểu, nghiên cứu, giải quyết các bài toán thực tiễn học sinh có cái nhìn khách quan, tổng quát hơn về các khái niệm, nội dung, tính chất, các quy luật, cách thức hoạt động và phát triển của các sự vật, hiện tượng, tình huống đặt ra của bài toán; từ đó giúp học sinh được củng cố kiến thức, mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, vận dụng kiến thức một cách sáng tạo vào thực tế đời sống hằng ngày. + Bài toán thực tiễn giúp học sinh làm rõ được mối liên hệ, liên kết giữa các kiến thức toán học với các môn học khác như vật lý, hóa học, sinh học và đặc biệt là các mối liên hệ với các môn xã hội như văn học, lịch sử, xã hội hay với thiên nhiên, môi trường, những vấn đề thiết thực trong cuộc sống; + Thông qua việc giải các bài toán thực tiễn còn giúp học sinh bước đầu biết vận dụng kiến thức để lí giải các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội từ đó vận dụng các lý thuyết, định lý, định luật trong toán học vào thực tiễn để cải tạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.