Mở đầu bài “Hàm số” SGK nêu ra 3 ví dụ (SGK trang 62;63) Ví dụ 1: Nhiệt độ T(oC) tại các thời điểm t(giờ) trong cùng một ngày được cho trong bảng sau : t (giờ) 0 4 8 12 16 20 T (0C) 20 18 22 26 24 21 Đào Thị Mừng Trang 13 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Văn Vĩnh Ví dụ 2: Khối lượng m(g) của một thanh kim loại đồng chất có khối lượng riêng là 7,8g/cm3 tỉ lệ thuận với thể tích V(cm3) theo công thức: m = 7,8V. Tính các giá trị tương ứng của m khi V = 1; 2; 3; 4. Ví dụ 3: Thời gian t(h) của một vật chuyển động đều trên quãng đường 50 km tỉ lệ nghịch với vận tốc v(km/h) của nó theo công thức: t = 50/v. Tính và lập bảng các giá trị tương ứng của t khi v = 5; 10; 15; 25; 50.
SGK đưa ra nhận xét: Trong ví dụ 1 ta thấy: ○ Nhiệt độ T(0C) phụ thuộc vào sự thay đổi của thời gian t(giờ). ○ Với mỗi giá trị của t ta luôn xác định được một và chỉ một giá trị tương ứng của T. Ta nói T là hàm số của t. Tương tự, trong các ví dụ 2, ví dụ 3 ta nói m là hàm số của V, t là hàm số của v.
Như vậy bản chất của việc lập bảng hay cho công thức đều là diễn tả sự tương ứng giữa hai đại lượng (t và T; m và V; t và v). Với mỗi giá trị của đại lượng thì giá trị tương ứng của đại lượng kia là duy nhất. Bảng và công thức đều cho thấy mối quan hệ phụ thuộc giữa hai đại lượng biến thiên đều cho ta quy tắc thiết lập sự tương ứng giữa các phần tử của hai tập hợp. Từ đây, học sinh có thể rút ra được thuộc tính bản chất của khái niệm hàm số là sự tương ứng giữa hai đại lượng và sự thay đổi phụ thuộc của đại lượng này vào sự thay đổi của đại lượng kia.
Từ đó, học sinh sẽ tiếp cận với khái niệm hàm số một cách dễ dàng hơn. Định nghĩa khái niệm hàm số trang 63: “Nếu đại lượng y phụ thuộc vào đại lượng thay đổi x sao cho với mỗi giá trị của x ta luôn xác định được chỉ một giá trị tương ứng của y thì y được gọi là hàm số của x và x được gọi là biến số”. Cách diễn đạt của định nghĩa này tương tự với cách diễn đạt của Dirichlet trong định nghĩa hàm số ông đưa ra năm 1837. Hàm số ở đây được trình bày theo quan điểm: coi hàm số như một khái niệm toán học mô tả sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai đại lượng biến thiên.
Định nghĩa này làm ẩn đi đặc trưng biến thiên của khái niệm hàm số, chỉ đề cập tới đặc trưng phụ thuộc và tương ứng. Ở đây, SGK chưa nhắc tới thuật ngữ “biến thiên” và đặc trưng biến thiên của hàm số. Có lẽ để học sinh tiếp thu một cách tường minh đặc trưng này ngay sau khi vừa làm quen với khái niệm hàm số là một việc khó, nó đòi hỏi ở một mức độ cao hơn khi học sinh đã nắm được những vấn đề cơ bản về hàm số. Vì vậy, ở đây SGK chưa đề cập tới sự đồng biến, nghịch biến của hàm số.
Ta thấy khái niệm hàm số ở đây được định nghĩa tương tự như định nghĩa của các nhà toán học thế kỉ XIX chứ không dùng định nghĩa chặt chẽ nhờ lí thuyết tập hợp như trước đây. SGK Đại Số 7 – NXBGD năm 2001 trình bày định nghĩa về khái niệm hàm số theo quan điểm của lí thuyết tập hợp, coi hàm số là một quy tắc tương ứng giữa hai phân tử của hai tập hợp số. Định nghĩa: (SGK Đại Số 7 – NXBGD năm 2001, trang 73) “Giả sử X và Y là hai tập hợp số. Một hàm số f từ X đến Y là quy tắc cho tương ứng mỗi giá trị x∈X một và chỉ một giá trị y∈Y, mà ta kí hiệu là y = f(x).
Người ta viết: f: X → Y x a y = f(x) (đọc là x tương ứng với f(x)). Đào Thị Mừng Trang 14 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Văn Vĩnh Theo cách diễn đạt này thì định nghĩa khái niệm hàm số chỉ đề cập đến đặc trưng tương ứng và ẩn đi đặc trưng biến thiên và đặc trưng phụ thuộc của hàm số. Nếu định nghĩa hàm số bằng thuật ngữ “ quy tắc tương ứng” có thể gây cho học sinh khó hiểu vì học sinh chưa biết khái niệm “quy tắc tương ứng” là gì mà việc trình bày định nghĩa theo cách đó cũng khá phức tạp đối với học sinh THCS mặc dù cách định nghĩa đó là chặt chẽ và chính xác, tương tự cách định nghĩa của các nhà toán học thế kỉ XX. Như vậy, cách định nghĩa về khái niệm hàm số trong SGK Toán 7 hiện hành là đơn giản, dễ hiểu đối với học sinh THCS.
Qua đó, học sinh dễ dàng nắm được các thuộc tính bản chất của khái niệm hàm số đó là sự tương ứng và sự phụ thuộc. Ở đây, SGK chưa đưa vào các khái niệm tập xác định, tập giá trị của hàm số, chỉ nhắc tới biến số,…Và SGK cũng không trình bày tường minh các cách cho hàm số mà chỉ nêu lên chú ý: Hàm số có thể được cho bằng bảng (ví dụ 1); bằng công thức (ví dụ 2 và ví dụ 3). • Phần 3: Trình bày về mặt phẳng tọa độ, đồ thị của hàm số y = ax (a ≠ 0), đồ a thị của hàm số y = (a ≠ 0) (bài đọc thêm ). x Trước khi trình bày về đồ thị hàm số, SGK giới thiệu về mặt phẳng tọa độ, tọa độ của một điểm trong mặt phẳng tọa độ để làm cơ sở cho việc xây dựng khái niệm đồ thị hàm số.
SGK đưa vào khái niệm đồ thị hàm số thông qua ?1. Ở trang 69, SGK trình bày: “Đồ thị của hàm số y = f(x) là tập hợp tất cả các điểm biểu diễn các cặp giá trị tương ứng (x; y) trên mặt phẳng tọa độ”. Việc lập các cặp số (x; y) để biểu diễn đồ thị của hàm số có tác dụng củng cố đặc trưng tương ứng, đặc trưng phụ thuộc và cả đặc trưng biến thiên (một cách ngầm ẩn). Theo sách giáo viên lớp 7, trang 73: mục đích của SGK là : “học sinh hiểu được khái niệm đồ thị của hàm số, đồ thị của hàm số y = ax (a≠0) và biết được ý nghĩa của đồ thị trong nghiên cứu hàm số”.
Vì vậy, ở lớp 7, học sinh chỉ được làm quen với việc vẽ đồ thị của hàm số y = ax a (a ≠ 0) và đồ thị hàm số y = (a ≠ 0) thông qua bài đọc thêm. x Về hàm số y = ax (a ≠ 0), SGK trình bày các ví dụ cụ thể rồi từ đó khái quát lên dạng đồ thị của nó: “Đồ thị của hàm số y = ax (a ≠ 0) là một đường thẳng đi qua gốc tọa độ.” Ở đây, SGK muốn cho học sinh thấy rõ: Đồ thị của hàm số có thể là một số điểm rời rạc như trong ví dụ 1 (đồ thị của một hàm số cho bằng bảng). Trong toán học đồ thị của hàm số được cho bằng công thức thường là các đường, như đồ thị hàm số y = ax (a ≠ 0). a Đồ thị hàm số y = (a ≠ 0) được giới thiệu dưới dạng bài đọc thêm để học sinh x có thể biết được các dạng khác nhau của đồ thị hàm số.
Đào Thị Mừng Trang 15 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Văn Vĩnh a Việc trình bày hai hàm số đơn giản nhất y = ax (a ≠ 0) , y = (a ≠ 0) để minh x họa cho khái niệm hàm số và đồ thị của hàm số một cách cụ thể, có tác dụng củng cố đặc trưng khoa học luận của khái niệm hàm số và khái niệm của đồ thị hàm số. Phần bài tập: ¾ Dạng bài tập củng cố đặc trưng tương ứng: • Bài tập về lập bảng giá trị tương ứng của biến số và giá trị của hàm số; tính giá trị của các hàm số tại các giá trị của biến số: bài 3 trang 54; bài 25; 26 trang 64, bài 28; 29; 30; 31 trang 64; bài 41 trang 72; bài 44 trang 73. 12 Ví dụ: bài 28 trang 64: Cho hàm số y = f(x) = x a) Tính f(5), f(-3) b) Hãy điền vào bảng các giá trị tương ứng của hàm số. x -6 -4 -3 2 5 6 12 y = f(x) =12/x 12 Để làm được bài tập này, học sinh phải hiểu thực chất công thức: y = f(x) = x là biểu thị mối quan hệ phụ thuộc giữa hai đại lượng x và y, trong đó, x và y là các đại lượng thay đổi trong những tập hợp số nào đó: x nhận giá trị trong R*; y nhận các giá trị trong R.
Khi có công thức của hàm số thì với mỗi giá trị của biến số x ta tìm được một giá trị hoàn toàn xác định của y và giá trị y tương ứng với x là duy nhất. Do đó dạng bài tập này có tác dụng củng cố đặc trưng tương ứng của hàm số. Ở đây, với mỗi giá trị 12 x ∈ R* cho tương ứng một và chỉ một giá tri y ∈ R sao cho y =. x Trong SGK, dạng bài tập này khá phong phú, đa dạng vừa rèn luyện kĩ năng tính toán cho học sinh vừa hình thành kĩ năng biến đổi một hàm số cho bằng công thức thành hàm số cho bằng bảng hoặc liệt kê các giá trị của hàm số tại các giá trị của biến số.
• Các bài tập về nhận dạng khái niệm hàm số: Xét xem quan hệ giữa hai đại lượng x và y có xác định một hàm số hay không. Bài 24 trang 63; bài 27 trang 64; bài 45 trang 73. Ví dụ: bài 24 trang 63; Các giá trị tương ứng của hai đại lượng x và y được cho trong bảng sau: x -4 -3 -2 -1 1 2 3 4 y 16 9 4 1 1 4 9 16 Đào Thị Mừng Trang 16 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Văn Vĩnh Đại lượng y có phải là hàm số của đại lượng x hay không? Dạng bài tập này đòi hỏi học sinh phải nắm vững các thuộc tính bản chất của khái niệm hàm số để nhận biết xem mối quan hệ giữa hai đại lượng đã cho có xác định hàm số hay không. Tức là phải kiểm tra đồng thời hai điều kiện: P1: Với mỗi giá trị xác định của x đều tồn tại giá trị tương ứng y.