CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tình hình nghiên cứu Sukmadewi (2014) đã thực hiện nghiên cứu nhằm điều tra việc nâng cao khả năng tư duy toán học của học sinh thông qua phương pháp sử dụng câu hỏi dò tìm và đẩy. Trong nghiên cứu tác giả đã đưa ra luận điểm dạy và học toán không chỉ là một hoạt động nhằm phát triển các kỹ năng tư duy của học sinh như hiểu biết toán học, suy luận toán học, giải quyết vấn đề và giao tiếp toán học.
Hơn nữa, dạy học toán cần có đủ không gian để học sinh cảm nhận được tính hữu ích của toán học trong cuộc sống, thể hiện ở sự tò mò, ham thích, ham học hỏi và tính kiên trì, tự tin khi giải toán. Theo tác giả đặt câu hỏi là một phương pháp luôn được hầu hết tất cả các giáo viên dạy Toán sử dụng. Nghiên cứu đã thực hiện việc xem xét nghiên cứu liên quan đến việc dạy và học toán, đặc biệt tập trung vào các câu hỏi được thiết kế để khơi gợi tư duy của học sinh. Trọng tâm sẽ là cách thiết kế và sử dụng các câu hỏi và kỹ thuật đặt câu hỏi để thúc đẩy học sinh tạo ra các kết nối và hiểu toán học một cách sâu sắc hơn hoặc thăm dò suy nghĩ của họ để hiểu rõ hơn cách họ cảm nhận toán học.
Câu hỏi dò và đẩy có thể được sử dụng như một giải pháp thay thế cho việc phát triển các kỹ năng tư duy toán học của học sinh cũng như các định vị toán học xây dựng tính cách của học sinh trong toán học. Hudson và cộng sự (2015) đã thực hiện nghiên cứu nhằm xây dựng, thiết kế trò chơi nhằm phát triển năng lực tư duy toán học của học sinh tiểu học tại Scotland. Nghiên cứu được thực hiện với một nhóm bao gồm 24 giáo viên tiểu học ở Đông Bắc Scotland trong giai đoạn 2011–2012. Một nghiên cứu hành động được thực hiện với các học sinh tiểu học tại Scotland.
Dữ liệu thực nghiệm được rút ra từ các cuộc khảo sát trước và sau khóa học, phỏng vấn và quan sát các diễn đàn thảo luận trên môi trường trực tuyến. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các học sinh lớp thực nghiệm có thái độ tích cực trong 7 lớp học hơn hẳn lớp đối chứng. Năng lực tư duy của nhóm học sinh lớp thực nghiệm cũng đã có cải thiện rõ rệt sau khi trải nghiệm thực thế phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học. Tại Việt Nam thì cho đến nay, đã có khá nhiều tác giả nổi bật trong lĩnh vực toán học, những người đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về toán học và phương pháp dạy học môn Toán.
- Sách "Các hoạt động trò chơi giáo dục tiểu học góp phần rèn luyện tình cảm, trí óc và thể chất ở học sinh" của tác giả Trần Nhật Thăng (Biên soạn) đã trình bày những trò chơi hoạt động ở học sinh tiểu học. - Theo sách "Phương pháp dạy học Toán cấp tiểu học" Nhà xuất bản 1 1 1 1 Đại học Huế 2007 – Nguyễn Trọng Chiến và Nguyễn Thị Kim Thoa: Nhóm 1 1 1 1 tác giả đưa ra yêu cầu và mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học môn Toán 1 1 cấp tiểu học. Đưa ra danh mục những bài toán gợi ý và vận dụng những phương pháp nhằm giúp học sinh vận dụng. Nhóm tác giả đã đưa được đặc 1 1 1 trưng của phương pháp dạy học theo nhóm.
Nhưng vẫn chưa thể đưa ra được 1 1 1 phương pháp dạy học theo nhóm và vận dụng phương pháp dạy học nào sẽ có kết quả cao. - Theo sách “Thực hành phương pháp dạy toán cấp tiểu học” Nhà xuất 1 1 1 1 1 bản Đại học Huế 2008 – TS Đào Tam (Tác giả) – Phan Thanh Thông và 1 Hoàng Bá Thịnh: Nhóm tác giả đã đưa ra mục đích dạy học môn Toán và 1 1 1 phương pháp vận dụng thực hành dạy học Toán trong từng phân môn thực 1 1 1 1 1 hành dạy học các số nguyên, thực hành dạy học các thập phân, thực hành dạy 1 1 1 1 1 1 học các yếu tố đại số, thực hành giảng dạy các yếu tố đại số, thực hành dạy 1 1 1 1 các yếu tố hình học và đo lường đại số, thực hành dạy toán có lời giải. 1 1 1 1 1 Nhận xét: Thông qua việc trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể thấy vấn đề phát triển năng lực tư duy toán học và 8 phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học đã nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong các bộ môn và cấp học khác nhau. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện với nội dung Phát triển năng lực tư duy toán học của học sinh tiểu học thông qua phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học.
Do vậy, cần có công trình nghiên cứu về 2 lĩnh vực này nhằm đòi hỏi cấp thiết của giáo dục. Như vậy, đề tài tác giả lựa 2 2 chọn không gặp phải vấn đề trùng lặp đề tài. Cơ sở lý luận về hoạt động học tập 1. Khái niệm hoạt động học Học là sự tương tác của cá thể với môi trường và hệ quả là dẫn đến sự thay đổi lâu dài trong suy nghĩ và thái độ hay hành động của cá thể đó [7].
Học có cả đối với người và vật. Nó là cách thức mà động vật có năng 2 2 2 lực thích nghi với môi trường xung quanh để từ đấy sinh tồn cùng tăng trưởng [9]. Học của cơ thể người và vật được xác định bằng hai tín hiệu sau: Thứ nhất: Học là sự tương tác của cá thể với môi trường, nghĩa là có sự tương tác qua lại giữa ứng với những nhân tố ở bên ngoài với sự tương tác đáp trả của cá thể. Đây cũng là điều kiện cần của sự học.
Vì nếu chỉ có sự 2 2 tương tác của những nhân tố bên ngoài chứ không có sự tương tác của cá thể thì sự học không xảy ra [9]. Thứ hai: Hệ quả của tương tác dẫn đến sự thay đổi căn bản trong ngôn ngữ, cử chỉ và hành động của cá thể. Nói ngắn gọn thì tương tác là sản sinh ra cho cá thể một năng lực mới (hoặc bổ sung năng lực), điều xưa kia không có trong nhận thức của loài. Điểm này có thể nhận biết tương tác gây biến đổi có tính sinh lý (trời nóng làm thân thể ra mồ hôi, thời tiết lạnh sởn da gà, hay là tương tác để biểu lộ sự thay đổi của thân thể v.
Con chim biết đi và trẻ con 9 biết bò, biết bước đi. Chung quy lại là các tương tác tạo ra phản ứng tất yếu có tính loài) với sự biến đổi sinh học hoặc tự nhiên của cá thể. Những tương tác dẫn đến sự biến đổi có tính di truyền, bẩm sinh hoặc có tính loài không được xem là sự học tập.2 Bản chất của hoạt động học - Qua thời gian sống và trưởng thành thì đối với mỗi một con người luôn diễn ra một sự tiếp thu tự động các kỹ năng, kỹ xảo khi giao tiếp và trong hoạt động sản xuất, giữa cách chung sống của mình với nhau và của mình với thiên nhiên đặc biệt là các tệ nạn và thói hư tật xấu. Trải qua quá trình mỗi người có sự chọn lọc điều gì có lợi đối với con người và giúp đỡ bản thân mình thông qua các hoạt động cộng đồng và hình thành các kỹ năng sống bao hàm cả tri thức và kỹ năng sống thông qua hướng dẫn của người lớn hoặc người có kinh nghiệm thông qua sự học hỏi và luyện tập nhằm hướng về sự đúng sai và lưu lại hoặc loại trừ,.
đấy cũng là quá trình học của mỗi một con người và cũng có thể tự giác hoặc tự phát. Tuy nhiên, nhìn về khía cạnh tích cực thì việc học này chỉ đưa lại lợi ích con người các tri thức tiền khoa học. Song khi thực tế yêu cầu con người cần có các tri thức khoa học đặc biệt và khả năng thực hành mới thì phương thức học tập trong đời sống không thực hiện được. Một phương thức đặc biệt (phương thức dạy học) mới có năng lực đặc biệt giúp con người thực hiện một hoạt động cụ thể được coi là hoạt động học.
Vậy, “học” là thuật ngữ dùng để mô tả hoạt động học diễn ra theo phương thức thường ngày, và "hoạt động học" là thuật ngữ dùng để mô tả hoạt động học diễn ra theo phương thức đặc biệt để thu nhận các tri thức mới, kỹ năng và kỹ xảo mới. Trong chương này, chúng ta đề cập về hoạt động học 2 2 [9]. - Hoạt động học là sự chiếm lĩnh kinh nghiệm của loài người dưới ảnh 2 2 hưởng của các tác nhân giáo dục. Chủ thể của hoạt động học là con người và 2 10 là tập hợp các người tham gia giáo dục.
Đối tượng của hoạt động học là các kinh nghiệm của con người về việc nhận thức và cải tạo sự vật hoặc về những hiện tượng xã hội phức tạp. Mục đích của hoạt động học là để chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội và giá trị tinh thần của nhân loại mang tới và trên nền tảng ấy học sinh có khả năng nhận thức về việc cải tạo thiên nhiên và xã hội, phải biết chung sống với cái gì quyết định sự sống còn của cá nhân người học. Phương tiện của hoạt động học là các cơ sở lý luận, là nội dung và hình thức tổ chức những hoạt động nhận thức, nghiên cứu về giá trị và hoạt động kinh tế, chính trị xã hội và hoạt động thẩm mĩ, tập thể dục nghệ thuật mà học sinh đã tổ chức thực hiện. Kết quả hoạt động học là các năng lực mới của học sinh thông qua việc nhận thức và cải tạo thực tiễn, là sự hoàn thiện các đặc tính của nhân cách học sinh phù hợp với yêu cầu xã hội.
- Động lực học tập của người học cụ thể, chi tiết luôn đi kèm với động lực nghề nghiệp, mong muốn trưởng thành và thành đạt. - Mục đích học tập của người học cũng chi tiết, cụ thể, rộng lớn hơn nữa và thường xuyên gắn bó với nghề nghiệp. Việc chuyển đổi các mục đích 2 2 và phương tiện học tập trong tiến trình học tập diễn ra nhanh và thuận lợi. 2 2 - Các hoạt động học tập của học sinh vừa có tính học tập, vừa phải có 2 2 2 tính nghiên cứu khoa học vừa sức.
- Những phương tiện và công cụ học tập phong phú.