Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản đối với ngành giáo dục, đòi hỏi việc ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới tư duy, phương pháp và phương tiện dạy học nhằm chuyển đổi mô hình từ truyền thụ tri thức một chiều sang hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực của người học. Định hướng này phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.
Trong thực tiễn giáo dục phổ thông, chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Việc sử dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử tại các trường Trung học phổ thông (THPT) phần lớn mới dừng lại ở vai trò phương tiện trực quan hỗ trợ giảng dạy thuần túy, chưa được khai thác như một phương pháp dạy học tích cực. Quá trình thiết kế và sử dụng sơ đồ chủ yếu mang tính kinh nghiệm cá nhân của giáo viên; học sinh chỉ tiếp nhận mô hình có sẵn một cách thụ động mà chưa hình thành các kỹ năng thiết kế, đọc hiểu và sử dụng sơ đồ trong học tập.
Mặt khác, nội dung Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1975 ở cấp THPT là phần kiến thức trọng tâm với khối lượng sự kiện lớn, trải qua bốn thời kỳ lịch sử quan trọng: sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Cách mạng tháng Tám và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945), cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc năm 1975. Khối lượng sự kiện dài và phức tạp này tạo ra trở ngại cho khả năng tiếp thu và ghi nhớ của học sinh. Việc nghiên cứu một cách có hệ thống phương pháp sơ đồ hóa kiến thức nhằm giúp học sinh khái quát hóa, hệ thống hóa và so sánh các sự kiện lịch sử là vấn đề cấp thiết có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập tầm quan trọng của phương pháp sơ đồ hóa kiến thức, thiết kế hệ thống sơ đồ kiến thức và đề xuất các biện pháp vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử Việt Nam (1919 – 1975) ở trường THPT, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng ở trường THPT.
- Khảo sát, điều tra thực tiễn dạy học lịch sử và việc vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
- Phân tích chương trình, sách giáo khoa lịch sử Việt Nam (1919 – 1975) cấp THPT nhằm xác định nội dung cơ bản để thiết kế sơ đồ hóa kiến thức, đồng thời đề xuất các biện pháp sư phạm sử dụng trong dạy học.
- Xây dựng giáo án và tiến hành thực nghiệm sư phạm (từng phần và toàn phần) để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
Giả thuyết khoa học
Nếu xác định đúng nội dung lịch sử để thiết kế các sơ đồ kiến thức theo quy trình khoa học, đồng thời vận dụng linh hoạt các biện pháp sơ đồ hóa kiến thức phù hợp với đặc trưng của từng trường THPT thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình thiết kế và sử dụng sơ đồ hóa kiến thức, trọng tâm là quy trình thiết kế và các biện pháp sử dụng sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
- Phạm vi nội dung: Các tài liệu lí luận về sơ đồ, phương pháp sơ đồ hóa kiến thức; các bài học nội khóa thuộc bốn thời kì của lịch sử Việt Nam (1919 – 1975) trong chương trình Lịch sử THPT.
- Phạm vi không gian điều tra khảo sát: Điều tra, khảo sát diện rộng tại nhiều trường THPT thuộc 22 tỉnh, thành phố trên cả nước: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận (văn bản ghi Bình Thạch), Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nội, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình; trong đó tập trung chính vào khu vực Tây Bắc.
- Phạm vi thực nghiệm sư phạm: Thực hiện tại 10 trường THPT thuộc 4 tỉnh vùng Tây Bắc:
- Tỉnh Điện Biên: Trường THPT thành phố Điện Biên, Trường THPT Mường Ảng.
- Tỉnh Sơn La: Trường THPT Tô Hiệu, Trường THPT Chu Văn An, Trường THPT Mai Sơn, Trường THPT Bắc Yên (văn bản ghi THPT Bắc).
- Tỉnh Lai Châu: Trường THPT thành phố Lai Châu, Trường THPT Than Uyên.
- Tỉnh Hòa Bình: Trường THPT Ngô Quyền, Trường THPT Mường Bi.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu về lý thuyết sơ đồ và ứng dụng trong dạy học
Lý thuyết sơ đồ có lịch sử phát triển từ năm 1736 qua công trình giải bài toán "Bảy cây cầu ở Konigsburg" của nhà toán học Leonhard Euler (1707 – 1783). Qua các giai đoạn phát triển, lý thuyết này được ứng dụng vào nhiều ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và khoa học xã hội - nhân văn. Trong lĩnh vực giáo dục, việc sử dụng sơ đồ được nghiên cứu ở nhiều môn học và cấp học khác nhau.
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Nội dung chính |
| Lý thuyết sơ đồ và ứng dụng quốc tế ngoài môn Lịch sử |
Bruce Robertson (1988), How to Draw Charts and Diagrams Raymond M. Marston (1989), 110 sơ đồ thực hành dùng thyristo và triac Christine Taylor – Butler (2012), Understanding Diagrams Ariane de Saeger (2015), The Ishikawa Diagram Jessica Glaser & Carolyn Knight (2009), Diagrams: Innovative Solutions for Graphic Designers Paperback Jeffrey Balmer & Michael T. Swisher (2012), Diagramming the Big Idea Gerard Allwein & Jon Barwise (1996), Logical Reasoning with Diagrams Mickey Kolis & Benjamin H. Kolis (2016), Thinking Diagrams: Processing and Connecting Experiences, Facts, and Ideas Kevin Duncan (2014), The Diagrams Book: 50 Ways to Solve Any Problem Visually |
Phân tích cơ sở lý thuyết, kỹ thuật biểu diễn thông tin, cấu trúc hóa ý tưởng, phân tích nguyên nhân - kết quả bằng sơ đồ xương cá Ishikawa, rèn luyện tư duy logic trực quan và giải quyết vấn đề bằng các mô hình sơ đồ trực quan. |
| Lý luận dạy học trực quan và ứng dụng sơ đồ của các tác giả nước ngoài |
Đ. (1970), Phương pháp dạy học Hóa học M. Craiepxki, Xcatkin, I. Lecne (1980), Lý luận dạy học của các trường phổ thông N. Savin (1984), Giáo dục học Nhicôlaiêva, Các phương tiện trực quan trong giảng dạy triết học Wolfgang Doran & Walter Jabn (1975), Hình thành biểu tượng và khái niệm trong dạy học địa lý L. Levenbeg (1982), Dùng hình vẽ sơ đồ, bản vẽ, để dạy toán ở cấp I Vlaxôva T. (1986, 1987), Sơ đồ và biểu đồ về chủ nghĩa duy vật biện chứng / lịch sử McKnight, tài liệu 100 sơ đồ tổng hợp kiến thức |
Xác định vai trò của phương tiện trực quan quy ước trong việc hình thành khái niệm, mô hình hóa thao tác nhận thức, trực quan hóa mối quan hệ bản chất giữa các đối tượng học tập. |
| Nghiên cứu về lý thuyết sơ đồ và dạy học bằng sơ đồ tại Việt Nam |
Nhâm Văn Hanh (1973), Phương pháp sơ đồ mạng lưới P.T Nguyễn Vũ Phương Nam (2015), 4 bước giải quyết vấn đề Nguyễn Ngọc Quang (1971, 1979, 1994), Lí luận dạy học hóa học Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãn Bách, Trần Bá Hoành (1979), Lý luận dạy học sinh học Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, Đặng Văn Đức (1991), Lý luận dạy học Địa lý Phùng Văn Bộ (1999), Lý luận dạy học môn Giáo dục công dân Tô Xuân Giáp (1998), Phương tiện dạy học Nguyễn Phúc Chỉnh (2005), Phương pháp Graph trong dạy học sinh học Phan Minh Tiến (2007), Sử dụng sơ đồ trong việc giảng dạy địa lí ở trung học cơ sở Phan Dũng (2012), bộ sách Sáng tạo và đổi mới (Quyển 6) Nguyễn Thị Khiên, luận án về lý thuyết Graph trong Sinh học 12 |
Khẳng định khả năng chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học; mô hình hóa kiến thức, cấu trúc hóa hoạt động dạy học, ứng dụng lý thuyết Graph và biểu đồ xương cá trong việc phát triển tư duy cho học sinh. |
| Sơ đồ hóa trong SGK Lịch sử nước ngoài |
Đới Bảo Thôn, SGK Lịch sử Đài Loan (tập 1) Lý Phúc Chung & Cổ Vĩ Doanh, SGK Lịch sử Trung Quốc (tập 3) Godama Gouta (1998), SGK Lịch sử Nhật Bản Shosuke Murai (1998), SGK Lịch sử thế giới Nhật Bản |
Sử dụng đa dạng các dạng sơ đồ kết hợp hình ảnh, biểu tượng: sơ đồ thời gian, sơ đồ quan hệ chính trị, sơ đồ phân cấp hành chính, sơ đồ so sánh kinh tế - xã hội. |
| Nghiên cứu về phương pháp trực quan và sơ đồ trong dạy học Lịch sử tại Việt Nam |
Phan Ngọc Liên & Trần Văn Trị (1961), Sơ thảo phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường cấp 2-3 Phan Ngọc Liên & Phạm Kì Tá (1975, 1980), Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông cấp II Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi và cs (1995, 1998, 1999, 2002, 2007, 2008, 2009, 2014), các giáo trình và chuyên khảo PPDH Lịch sử Trịnh Đình Tùng (chủ biên) và cs (2005), Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS Vũ Quang Hiển & Hoàng Thanh Tú (2014), Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông Nguyễn Mạnh Hưởng, các bài báo về phần mềm Mind Manager 8.0, 9.0 và ứng dụng CNTT trong dạy học Lịch sử |
Phân loại đồ dùng trực quan quy ước, xác định vai trò của sơ đồ trong việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm lịch sử, phát triển tư duy logic và hướng dẫn học sinh tự học thông qua các phần mềm sơ đồ tư duy. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù phương tiện trực quan và sơ đồ đã được đề cập trong nhiều công trình lý luận dạy học, nhưng các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem sơ đồ như một đồ dùng minh họa hoặc phản ánh kinh nghiệm đơn lẻ của giáo viên. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học Lịch sử cấp THPT với các nội dung cụ thể:
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở lí luận chuyên biệt về phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong môn Lịch sử.
- Thiết lập quy trình các bước thiết kế sơ đồ hóa kiến thức theo chương trình Lịch sử Việt Nam (1919 – 1975) cấp THPT.
- Đề xuất hệ thống các biện pháp sư phạm sử dụng sơ đồ hóa kiến thức nhằm tổ chức hoạt động nhận thức tích cực cho học sinh.
- Kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi thông qua thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT vùng Tây Bắc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm
- Cơ sở phương pháp luận: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhận thức luận, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương và đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
- Quan niệm về sơ đồ: Kế thừa định nghĩa từ Từ điển Anh – Việt, Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, Viện Ngôn ngữ học) và Tony Buzan (Cải thiện năng lực trí não), luận án xác định sơ đồ là loại đồ dùng trực quan quy ước gồm hệ thống từ khóa, hình khối, màu sắc, ký hiệu kết hợp nhằm phản ánh cấu trúc bên ngoài và bản chất bên trong của các đơn vị kiến thức lịch sử.
- Quan niệm về sơ đồ hóa: Là hành động tư duy nhằm chuyển hóa các tư tưởng, khái niệm trừu tượng, sự kiện lịch sử phức tạp từ các dạng ngôn ngữ văn bản sang ngôn ngữ sơ đồ (hình khối, đường nét, màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ).
- Kiến thức lịch sử: Dựa trên quan điểm của T. Ilina, Nguyễn Như Ý và Phan Ngọc Liên (Thuật ngữ lịch sử ở trường phổ thông, 1996), kiến thức lịch sử trong nhà trường là hệ thống tri thức cơ bản được khoa học lịch sử xác nhận, phản ánh hiện thực lịch sử khách quan, làm tiền đề để nắm vững quy luật và rút ra bài học thực tiễn.
- Bản chất hai mặt của sơ đồ hóa kiến thức: Vừa là phương tiện trực quan quy ước (khi dùng để quan sát, ghi chép), vừa là phương pháp dạy học tích cực (khi dùng để tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức và rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh).
- Các đặc điểm cơ bản của phương pháp: Tính khách quan và tính chủ quan; Tính khái quát hóa; Tính logic, hệ thống; Tính cơ bản, bản chất; Tính trực quan; Tính chuyển tải thông tin cao; Tính linh hoạt.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học; nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa Lịch sử Việt Nam (1919 – 1975) cấp THPT.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Sử dụng phiếu khảo sát, phỏng vấn sâu, trao đổi trực tiếp với chuyên gia, giáo viên và học sinh tại 22 tỉnh, thành phố; xây dựng bảng câu hỏi chuyên biệt cho từng đối tượng nhằm thu thập dữ liệu thực trạng.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm từng phần và thực nghiệm toàn phần thông qua các bài dạy trên lớp và bài kiểm tra đánh giá tại 10 trường THPT thuộc 4 tỉnh Tây Bắc (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình).
- Phương pháp thống kê, xử lý dữ liệu: Ứng dụng toán học thống kê cùng các công cụ tin học gồm Microsoft Excel và phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu điều tra thực trạng và kết quả thực nghiệm sư phạm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu lý thuyết sơ đồ và việc ứng dụng sơ đồ trong dạy học trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các đóng góp của các nhà khoa học trong việc phân loại sơ đồ, kỹ thuật thiết kế, ứng dụng sơ đồ trong các môn khoa học tự nhiên (Toán, Hóa học, Sinh học) và khoa học xã hội (Địa lý, Triết học, Kinh tế chính trị, Giáo dục công dân).
Đối với bộ môn Lịch sử, chương này điểm lại các công trình tiêu biểu từ năm 1961 đến nay của các tác giả trong nước (Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Vũ Quang Hiển, Nguyễn Mạnh Hưởng...) và các bộ sách giáo khoa Lịch sử của Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản. Chương 1 chỉ ra rằng việc sử dụng sơ đồ trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ phương tiện minh họa, thiếu quy trình chuẩn hóa và chưa có hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ. Đây là căn cứ xác lập khoảng trống khoa học để luận án giải quyết trong các chương tiếp theo.
Chương 2: Phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông: Lí luận và thực tiễn
Chương 2 tập trung giải quyết cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của phương pháp sơ đồ hóa kiến thức:
- Lí luận về sơ đồ hóa: Làm rõ định nghĩa, bản chất, 7 đặc điểm cốt lõi, ưu điểm (về mặt lí luận mô hình hóa và thực tiễn dạy học) cũng như các hạn chế cần khắc phục (tính khái quát cao làm giảm chi tiết, nguy cơ áp đặt thụ động nếu giáo viên làm thay học sinh).
- Yêu cầu đổi mới dạy học Lịch sử: Phân tích 5 định hướng đổi mới phương pháp bộ môn (dạy học qua tổ chức hoạt động, rèn luyện phương pháp tự học, tiếp cận năng lực người học, đổi mới kiểm tra đánh giá, ứng dụng công nghệ hỗ trợ) và 5 biện pháp thực hiện chủ yếu.
- Vai trò và ý nghĩa: Xác định vai trò của sơ đồ hóa như một phương tiện trực quan quy ước, công cụ nhận thức khoa học, biện pháp đổi mới phương pháp dạy học. Phân tích ý nghĩa toàn diện trên 3 phương diện:
- Kiến thức: Giúp tạo biểu tượng lịch sử chân thực, hình thành khái niệm, nắm bắt quy luật. Ví dụ minh họa tại Bài 18 (Những năm đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1946 – 1950) với sơ đồ hóa 4 nội dung đường lối kháng chiến: toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh.
- Kỹ năng: Phát triển tư duy phân tích, so sánh, tổng hợp, kỹ năng làm việc nhóm, thuyết trình. Ví dụ tại Bài 17 (Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946) với việc kết hợp sơ đồ hóa kiến thức kinh tế, tài chính và kĩ thuật "6 chiếc mũ tư duy".
- Thái độ: Giáo dục cảm xúc lịch sử, lòng biết ơn và trách nhiệm công dân. Ví dụ tại Bài 22 (Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược... 1965 – 1973) qua hoạt động khởi động kết hợp sơ đồ và hình ảnh lịch sử về tội ác chiến tranh và tinh thần đấu tranh bất khuất.
- Thực tiễn dạy học và khảo sát: Trình bày mục đích, địa bàn và đối tượng khảo sát thực trạng tại các trường THPT trên phạm vi cả nước và khu vực Tây Bắc làm căn cứ đề xuất biện pháp.
Chương 3: Sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử Việt Nam (1919 - 1975) ở trường THPT
Chương 3 đi sâu vào phân tích chương trình, cấu trúc nội dung Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1975 ở trường THPT qua 4 thời kỳ lịch sử. Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập quy trình các bước thiết kế sơ đồ hóa kiến thức và giới thiệu hệ thống các dạng sơ đồ chuyên biệt phục vụ cho các bài học nội khóa:
- Các dạng sơ đồ cấu trúc nội dung bài học, sơ đồ diễn biến chiến dịch, sơ đồ tổ chức bộ máy, sơ đồ so sánh đối chiếu (đặc biệt giữa kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ), sơ đồ phân tích nguyên nhân - kết quả.
- Các tiêu chí kỹ thuật và sư phạm đối với một sơ đồ kiến thức lịch sử đạt chuẩn: tính chính xác khoa học, tính trực quan, tính thẩm mỹ và tính sư phạm.
Chương 4: Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử Việt Nam (1919-1975) ở trường THPT. Thực nghiệm sư phạm
Chương 4 đề xuất hệ thống các biện pháp sư phạm cụ thể nhằm vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức vào các khâu của quá trình dạy học lịch sử (kiểm tra bài cũ, khởi động dẫn dắt, dạy học bài mới, củng cố - ôn tập, sơ kết - tổng kết, kiểm tra đánh giá) và các hình thức tổ chức hoạt động học tập (cá nhân, nhóm, ứng dụng phần mềm tin học hỗ trợ).
Tác giả trình bày quy trình và kết quả thực nghiệm sư phạm (từng phần và toàn phần) tại 10 trường THPT thuộc 4 tỉnh Tây Bắc (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình). Dữ liệu điểm số và mức độ nhận thức của học sinh ở các lớp thực nghiệm và đối chứng được thu thập, xử lý thống kê bằng Microsoft Excel và SPSS 16.0, làm cơ sở kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã đặt ra.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa, củng cố và làm phong phú thêm cơ sở lí luận dạy học bộ môn Lịch sử về phương pháp sơ đồ hóa kiến thức ở cấp THPT.
- Xác định rõ bản chất, đặc điểm, vai trò kép (phương tiện trực quan quy ước và phương pháp dạy học tích cực) cùng các nguyên tắc chuyển hóa lý thuyết sơ đồ toán học, sơ đồ tư duy thành phương pháp dạy học chuyên biệt cho môn Lịch sử.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phác họa bức tranh thực trạng về việc dạy học lịch sử và tình hình vận dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử tại các trường THPT ở Việt Nam, trọng tâm là khu vực Tây Bắc.
- Xây dựng quy trình thiết kế và bộ công cụ hệ thống sơ đồ kiến thức phục vụ dạy học phần Lịch sử Việt Nam (1919 – 1975) cấp THPT.
- Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm linh hoạt, có khả năng áp dụng vào các khâu của bài học lịch sử nhằm phát huy tính chủ động, năng lực tự học và tư duy của học sinh.
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh phổ thông, cũng như giảng viên và sinh viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Giáo viên cần tránh sử dụng sơ đồ theo lối áp đặt một chiều; cần chuyển giao nhiệm vụ để học sinh trực tiếp tham gia vào quá trình đọc hiểu, thiết kế và hoàn thiện sơ đồ.
- Kết hợp linh hoạt phương pháp sơ đồ hóa với các kỹ thuật dạy học hiện đại (dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, mô hình 6 chiếc mũ tư duy) và các phương tiện công nghệ thông tin (phần mềm Mind Manager, trình chiếu đa phương tiện).
- Khai thác sơ đồ phù hợp với từng dạng bài học cụ thể (bài nghiên cứu kiến thức mới, ôn tập sơ kết, tổng kết) và đặc thù nhận thức của từng đối tượng học sinh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận
- Phương pháp sơ đồ hóa có tính khái quát và hệ thống cao nên gặp khó khăn trong việc trình bày chi tiết các nội dung, định nghĩa, khái niệm mang tính trừu tượng sâu sắc hoặc các diễn biến lịch sử có tính chi tiết vụn vặt; phương pháp này không thay thế hoàn toàn được các phương pháp dạy học khác mà cần có sự phối hợp đồng bộ.
- Phạm vi thực nghiệm sư phạm tập trung chủ yếu tại 10 trường THPT thuộc 4 tỉnh vùng Tây Bắc (Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình), phản ánh đặc thù địa bàn miền núi, chưa bao quát đồng đều các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau trên toàn quốc.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu và ứng dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức sang các giai đoạn lịch sử khác trong chương trình giáo dục phổ thông (Lịch sử thế giới, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1918).
- Nghiên cứu sâu hơn về việc kết hợp các phần mềm tin học chuyên dụng thế hệ mới nhằm hỗ trợ học sinh tự thiết kế sơ đồ trong học tập và ôn luyện trực tuyến.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho các đối tượng và hoạt động học thuật sau:
- Giáo viên Lịch sử trường THPT: Tham khảo quy trình thiết kế sơ đồ, hệ thống sơ đồ mẫu phần Lịch sử Việt Nam (1919 – 1975) và các biện pháp tổ chức hoạt động nhận thức trên lớp (khởi động, dạy bài mới, ôn tập, kiểm tra).
- Học sinh THPT: Tiếp cận phương pháp hệ thống hóa kiến thức lịch sử, phương pháp ghi chép ngắn gọn, rèn luyện kỹ năng đọc - vẽ sơ đồ nhằm nâng cao hiệu quả tự học và ôn tập các kỳ thi.
- Giảng viên và sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy học phần Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm.
- Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên phụ trách môn Lịch sử: Tham khảo cơ sở thực tiễn và các giải pháp sư phạm để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học bộ môn tại các địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng Tây Bắc.
Câu hỏi thường gặp
1. Bản chất của phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học Lịch sử được luận án xác định như thế nào?
Luận án xác định sơ đồ hóa kiến thức là phương pháp dạy học tích cực, trong đó kiến thức lịch sử được mô hình hóa dưới dạng ngôn ngữ sơ đồ (kết hợp từ khóa, hình khối, đường nét, màu sắc, ký hiệu). Sơ đồ vừa giữ vai trò là đồ dùng trực quan quy ước để học sinh quan sát, tiếp nhận thông tin, vừa là công cụ và phương pháp để giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, hướng dẫn học sinh độc lập tư duy, hệ thống hóa tri thức và phát triển năng lực tự học.
2. Luận án chỉ ra những hạn chế chính nào trong thực tiễn sử dụng sơ đồ của giáo viên Lịch sử hiện nay?
Phần lớn giáo viên mới sử dụng sơ đồ như một phương tiện trực quan hỗ trợ giảng dạy thuần túy theo kinh nghiệm cá nhân, mang tính truyền thụ một chiều. Giáo viên vẽ sẵn sơ đồ để học sinh quan sát, khiến học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, ghi nhớ máy móc mà không qua quá trình tư duy; việc sử dụng chưa tuân thủ quy trình sư phạm chặt chẽ nên học sinh chưa hình thành được kỹ năng thiết kế và đọc hiểu sơ đồ.
3. Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của đề tài được triển khai tại các địa bàn nào?
Khảo sát thực trạng được thực hiện tại 22 tỉnh, thành phố trong cả nước (gồm TP. Hồ Chí Minh, Bình Thuận/Bình Thạch, Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nội, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình). Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại 10 trường THPT thuộc 4 tỉnh Tây Bắc gồm: Điện Biên (THPT TP Điện Biên, THPT Mường Ảng), Sơn La (THPT Tô Hiệu, THPT Chu Văn An, THPT Mai Sơn, THPT Bắc Yên), Lai Châu (THPT TP Lai Châu, THPT Than Uyên), Hòa Bình (THPT Ngô Quyền, THPT Mường Bi).
4. Luận án sử dụng các công cụ tin học và kỹ thuật nào để xử lý dữ liệu nghiên cứu?
Đề tài sử dụng phương pháp toán học thống kê kết hợp với phần mềm bảng tính Microsoft Excel và phần mềm xử lý thống kê chuyên ngành SPSS phiên bản 16.0 để phân tích định lượng dữ liệu thu được từ các phiếu điều tra thực trạng và kết quả điểm số các bài kiểm tra trong quá trình thực nghiệm sư phạm.
5. Luận án minh họa việc áp dụng sơ đồ hóa kiến thức qua những bài học lịch sử cụ thể nào?
Văn bản trình bày các ví dụ thực tiễn gồm: Bài 18 (Những năm đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1946 – 1950) với sơ đồ hóa 4 nội dung đường lối kháng chiến; Bài 17 (Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946) với sơ đồ nhiệm vụ kinh tế - tài chính kết hợp kĩ thuật 6 chiếc mũ tư duy; và Bài 22 (Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ... 1965 – 1973) với sơ đồ khởi động kết hợp hình ảnh tư liệu lịch sử.
Kết luận
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử đã giải quyết có hệ thống vấn đề lý thuyết và thực tiễn về phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1975 ở cấp THPT. Thông qua việc phân tích cơ sở lí luận, điều tra thực trạng trên diện rộng và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại 10 trường THPT thuộc 4 tỉnh Tây Bắc, đề tài đã khẳng định tính khả thi của quy trình thiết kế và hệ thống biện pháp sư phạm đề xuất. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và nguồn tư liệu thực tiễn hữu ích, góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực người học ở trường phổ thông.