Skkn vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học hai văn bản người lái đò sông đà nguyễn tuân và ai đã đặt tên cho dòng sông hoàng phủ ngọc tường ngữ văn 12

Khám phá cách vận dụng thuyết đa trí tuệ trong giảng dạy hai tác phẩm "Người lái đò Sông Đà" và "Ai đã đặt tên cho dòng sông" trong ngữ văn 12.

Trường đại học

Trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Hưng Nguyên

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sáng kiến kinh nghiệm

2021 - 2022

61
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. PHẦN I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.1.1. Mục đích nghiên cứu

1.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Tính mới của đề tài

1.4. Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm

2. PHẦN II: NỘI DUNG

2.1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

2.1.1. Lí luận về thuyết đa trí tuệ

2.1.1.1. Khái niệm “Thuyết đa trí tuệ”
2.1.1.2. Các dạng trí thông minh/trí tuệ theo thuyết đa trí tuệ
2.1.1.3. Vai trò thuyết đa trí tuệ trong dạy học
2.1.1.4. Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học trong nhà trường phù hợp với yêu cầu thời đại 4.0 và nền giáo dục hiện đại

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 01. MẪU PHIẾU KHẢO SÁT ĐA TRÍ TUỆ HỌC SINH

PHỤ LỤC 02. BẢNG XỬ LÍ KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐA TRÍ TUỆ HỌC SINH

PHỤ LỤC 03. MỘT SỐ HÌNH ẢNH KHẢO SÁT ĐA TRÍ TUỆ HỌC SINH

PHỤ LỤC 04. HÌNH ẢNH TIẾT HỌC THỰC NGHIỆM TẠI LỚP 12C - TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

PHỤ LỤC 05. ĐỒNG NGHIỆP VẬN DỤNG ĐỀ TÀI DẠY THỬ NGHIỆM

PHỤ LỤC 06. KỊCH BẢN PHỎNG VẤN VÀ TRẢ LỜI PHỎNG VẤN

PHỤ LỤC 07. MỘT SỐ SẢN PHẨM CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN ĐA TRÍ TUỆ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thuyết Đa Trí Tuệ và Giáo Dục

Phần này khảo sát thuyết đa trí tuệ của Gardner, nhấn mạnh khái niệm trí thông minh đa dạng. Văn bản đề cập đến 8 loại hình trí thông minh: ngôn ngữ, logic-toán học, không gian-hội họa, hình thể-vận động, âm nhạc, giao tiếp, nội tâm, và tự nhiên. Gardner cho rằng trí thông minh không chỉ giới hạn trong chỉ số IQ. Giáo dục truyền thống tập trung vào trí thông minh logicngôn ngữ, bỏ qua các dạng trí tuệ khác. Giáo dục hiện đại cần phát triển toàn diện các loại trí thông minh này. Thuyết đa trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong nền giáo dục hiện đại, đáp ứng yêu cầu giáo dục cá thể hóagiáo dục 4.0. Văn bản trích dẫn lời Einstein: “Ai cũng là thiên tài. Nhưng nếu bạn đánh giá một con cá bằng khả năng leo cây, nó sẽ sống suốt đời với niềm tin rằng nó là kẻ đần độn”. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện và phát triển các dạng trí thông minh khác nhau ở mỗi cá nhân.

1.1 Ứng dụng Thuyết Đa Trí Tuệ trong Giáo Dục

Vận dụng thuyết đa trí tuệ đòi hỏi sự đổi mới phương pháp dạy học. Giáo viên cần áp dụng linh hoạt nhiều phương pháp dạy học tích hợp, phương pháp dạy học phân hóa, phù hợp với từng dạng trí thông minh. Ví dụ, với trí tuệ ngôn ngữ, có thể sử dụng phương pháp kể chuyện, viết nhật ký. Với trí tuệ không gian, có thể dùng vẽ tranh, sơ đồ tư duy. Phương pháp dạy học cần được cá thể hóa, phát huy thế mạnh của từng học sinh. Đánh giá năng lực học sinh cũng cần đa dạng, không chỉ dựa trên trí tuệ ngôn ngữlogic-toán học. Thuyết đa trí tuệ giúp cá nhân hóa việc học, học sinh được học tập theo phong cách và sở thích riêng. Mục tiêu giáo dục hướng tới phát triển toàn diện các kĩ năng, năng lực, và các dạng trí thông minh ở học sinh. Giáo dục cần khuyến khích sự sáng tạo, tư duy phản biện, và khả năng thích nghi.

1.2 Thực trạng và Khả năng Vận dụng

Văn bản nêu thực trạng vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học ở Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu ở mầm non hoặc môn tự nhiên. Ngữ văn, một môn học thẩm mỹ và nhân văn, cần được tiếp cận bằng thuyết đa trí tuệ để phát triển nhiều năng lực ở học sinh, không chỉ EQ mà cả tư duy và trí tuệ. Chương trình Ngữ văn mới hướng tới phát triển nhiều năng lựctrí tuệ ở người học. Hai văn bản Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) rất phù hợp để vận dụng thuyết đa trí tuệ, vì chúng tổng hợp kiến thức đa ngành, giàu hình ảnh, kích thích nhiều loại tư duy. Văn bản đề xuất nghiên cứu và thực nghiệm vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học hai văn bản này, một hướng đi mới mẻ, tăng hứng thú học tập cho học sinh.

II. Vận dụng Thuyết Đa Trí Tuệ vào Dạy Học Hai Văn Bản

Phần này tập trung vào việc vận dụng thuyết đa trí tuệ cụ thể vào dạy học hai văn bản: Người lái đò sông ĐàAi đã đặt tên cho dòng sông. Phân tích tác phẩm cần khai thác các hình ảnh, ngôn ngữ đặc sắc, kích thích nhiều dạng trí thông minh. So sánh tác phẩm giúp học sinh phát triển tư duy logic, tư duy phân tích, và khả năng tổng hợp. Việc thiết kế bài giảng cần đa dạng hoạt động, đáp ứng các dạng trí thông minh khác nhau. Giáo án minh họa được đề xuất để làm rõ phương pháp. Rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, và nghe cũng cần được tích hợp. Phát triển năng lực ở nhiều khía cạnh: tự chủ, hợp tác, giải quyết vấn đề, và sáng tạo. Văn bản đề cập đến việc phát triển cụ thể các dạng trí thông minh như trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ giao tiếp, trí tuệ logic, trí tuệ nội tâm, trí tuệ không gian, trí tuệ âm nhạc, và trí tuệ tự nhiên thông qua việc phân tích các tác phẩm.

2.1 Phát triển Các Dạng Trí Tuệ

Phần này trình bày cụ thể các hoạt động dạy học nhằm phát triển từng dạng trí thông minh. Trí tuệ ngôn ngữ được phát triển qua việc phân tích ngôn ngữ, hình ảnh, phong cách nghệ thuật của hai tác phẩm. Trí tuệ giao tiếp được phát triển qua các hoạt động thảo luận nhóm, thuyết trình. Trí tuệ logic được phát triển qua việc so sánh, đối chiếu, phân tích các chi tiết, tư duy logic toán học. Trí tuệ nội tâm được phát triển qua việc khám phá tâm tư tình cảm của nhân vật. Trí tuệ không gian được phát triển qua việc tưởng tượng, hình dung cảnh sắc sông Đà, hình ảnh sông Đà. Trí tuệ âm nhạc có thể được kết hợp nếu bài giảng sử dụng nhạc nền phù hợp. Trí tuệ tự nhiên được phát triển qua việc liên hệ với kiến thức về thiên nhiên, địa lý trong tác phẩm. Các biện pháp tu từ, ẩn dụ, biểu tượng trong văn bản đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các dạng trí thông minh.

2.2 Đánh giá Hiệu Quả và Kiến Nghị

Phần này trình bày về đánh giá hiệu quả của việc áp dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học. Kết quả khảo sát được phân tích để đánh giá mức độ đạt được các mục tiêu. Mẫu phiếu khảo sát, bảng xử lý kết quả khảo sát được sử dụng như bằng chứng. Văn bản đưa ra các kiến nghị, đề xuất đối với giáo viên, học sinh, và nhà quản lý để nâng cao hiệu quả dạy và học. Giáo viên cần được tập huấn về thuyết đa trí tuệ và các phương pháp dạy học phù hợp. Học sinh cần được tạo điều kiện để phát triển các dạng trí thông minh. Nhà quản lý cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất, tài liệu, và chương trình đào tạo cho giáo viên. Thực tiễn dạy học cần được chú trọng để đánh giá hiệu quả thực tế của phương pháp.

31/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề và Kết luận, SKKN gồm các nội dung: Phần 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn Phần 2. Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học hai văn bản Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) trong chương trình Ngữ văn 12. 3 skkn PHẦN II: NỘI DUNG 1.

Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn 1. Lí luận về thuyết đa trí tuệ 1. Khái niệm “Thuyết đa trí tuệ” Thuyết đa trí tuệ là một lý thuyết về trí thông minh của con người được nhìn nhận bằng nhiều cách, mang tính đa dạng, được nghiên cứu và công bố bởi tiến sĩ Howard Gardner. Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ.

Năm 1983, ông xuất bản một cuốn sách có tựa đề “Frames of Mind”, trong đó ông đưa ra các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Lý thuyết về nhiều trí thông minh). Các dạng trí thông minh/trí tuệ theo thuyết đa trí tuệ Thuyết đa trí tuệ đã mang đến cho thế giới cái nhìn bao quát và toàn diện về tiềm năng não bộ của con người, nó đề cập đến sự đa dạng về trí tuệ của mỗi cá nhân. Theo đó, mỗi cá nhân sinh ra đều có 8 loại hình thông minh khác nhau: Hình: 8 loại hình thông minh/ trí tuệ của con người 4 skkn (1) Trí tuệ ngôn ngữ: Là khả năng sử dụng có hiệu quả các từ ngữ, hoặc bằng lời nói hoặc bằng chữ viết. Ví dụ: Thích đọc sách, trò chơi chữ, kể chuyện, viết lách tốt; phát âm chuẩn, vốn từ phong phú, nói chuyện lôi cuốn, có thể thuyết phục người khác bằng lời,.

(2) Trí tuệ logic - toán học: Là khả năng sử dụng có hiệu quả các con số và lí luận về logic, trật tự một cách thông thạo: Tính nhẩm nhanh, thích thú làm việc và vui chơi với các con số; Thích toán, các trò chơi đòi hỏi động não, tư duy logic; Thích tìm ra các bố cục, quy luật và trình tự các đồ vật, thích làm thí nghiệm, quan tâm đến các vấn đề khoa học tự nhiên,. (3) Trí tuệ không gian - hội họa: Là khả năng tiếp cận một cách chính xác thế giới không gian. Trí thông minh không gian liên quan đến việc suy nghĩ bằng hình ảnh, biểu tượng và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo các góc độ khác nhau của thế giới không gian trực quan. Những người có trí thông minh này thường: Nhạy cảm về màu sắc, đường nét, hình dạng và tương quan giữa chúng; Biết và thích vẽ; Đọc bản đồ, biểu đồ, sơ đồ và tranh ảnh dễ dàng hơn từ ngữ;.

(4) Trí tuệ hình thể - vận động: Là sự thành thạo và khéo léo trong việc sử dụng toàn bộ cơ thể để thể hiện các ý tưởng, cảm xúc và hoạt động nào đó: thích chơi và chơi tốt thể thao, làm thủ công tốt; Khó ngồi yên một chỗ trong thời gian dài; Thích các trò chơi sôi động, tháo gỡ rồi lắp ghép các đồ vật;. (5) Trí tuệ âm nhạc: Là khả năng cảm nhận, thưởng thức và tạo ra các tiết tấu nhịp điệu, đó là trí thông minh của các nhạc công hay những ca sĩ, ngoài ra trí thông minh âm nhạc còn có trong tiềm thức của bất cứ cá nhân nào, miễn là người đó có khả năng nghe tốt và hát theo giai điệu. Những người sở hữu trí thông minh âm nhạc: Nhạy cảm với nhịp điệu, âm sắc, âm tần của một bản nhạc; Nhớ được giai điệu các bài hát; Thích hát và hát hay, biết chơi nhạc cụ; Thích gõ nhịp hay hát khẽ một mình khi làm việc, học hành;. (6) Trí tuệ giao tiếp: Đây là năng lực hiểu và làm việc được với những người khác, khả năng nhìn thấu suốt bên trong người khác, từ đó nhìn ra viễn cảnh bên ngoài bằng chính con mắt của họ.

Là khả năng cảm nhận và phân biệt giữa các tâm trạng, ý đồ, động cơ và cảm nghĩ của người khác; Thích tham gia các hoạt động tập thể, thoải mái, tự tin giữa đám đông, biết chia sẻ, quan tâm đến người khác và cũng được người khác chia sẻ, khuyên bảo;. (7) Trí tuệ nội tâm: Là năng lực tự nhận thức về bản thân, nhìn rõ được những cảm xúc của bản thân mình, người có trí thông minh này họ thường hay xem xét bản thân và thích trầm tư suy nghĩ, được ở trạng thái tĩnh lặng hay các trạng thái tìm hiểu tinh thần một cách sâu sắc khác, họ thích làm việc một mình hơn làm việc cùng những người khác, họ là người có tính độc lập và tính tự giác tốt. Họ biết rõ ưu điểm, hạn chế của mình; Ý thức đầy đủ và đúng về tâm trạng, động cơ, tính khí, ước mơ của bản thân; Khả năng tự kiềm chế, tự kiểm soát, lòng tự trọng;. 5 skkn (8) Trí tuệ tự nhiên học: Là khả năng nhận dạng, phân loại các loài sinh vật; hiểu biết về các hiện tượng thiên nhiên; thích dã ngoại, chăm sóc con vật;… Gần đây, các nhà nghiên cứu đã đề nghị bổ sung trí thông minh thứ 9 được gọi là “Trí thông minh theo chủ nghĩa hiện sinh” hay “Trí thông minh triết học”.

Điều quan trọng là quá trình khai thác và phát triển chúng để đạt được sự phát triển toàn diện nhất. Vai trò thuyết đa trí tuệ trong dạy học Từ các đặc điểm trên cho thấy, thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner đã giúp chúng ta hiểu thêm về trí tuệ của con người theo cách thức mới, đa dạng hơn, rộng mở hơn. Thuyết đa trí tuệ ra đời đã được các nhà GD nghiên cứu và áp dụng một cách khoa học, sáng tạo vào nhiều lĩnh vực và hoạt động của nhà trường, từ chiến lược xây dựng và triển khai mục tiêu, chương trình GD; Xây dựng môi trường/cảnh quan trường học, lớp học, công tác quản lí lớp học; Đánh giá kết quả đầu ra, cho đến nhận thức và hành động của mỗi giáo viên. * Đối với người dạy: Một trong những đóng góp lớn nhất mà Thuyết đa trí tuệ mang lại là sự tác động đến việc đổi mới PPDH của giáo viên, đổi mới cách nhìn nhận năng lực người học, bao gồm cả việc soạn giáo án theo lí Thuyết đa trí tuệ để phù hợp và khuyến khích tư duy của mọi người học.

Thuyết đa trí tuệ đã gợi mở ra rất nhiều PPDH tích cực. Không thể phủ nhận hoàn toàn vai trò của các PPDH truyền thống. Các phương pháp này cũng đã góp phần phát triển ở người học một số dạng trí tuệ nhất định (như trí tuệ ngôn ngữ, logic-toán học). Người dạy khi đã hiểu rõ bản chất của Thuyết đa trí tuệ, họ sẽ là người tự giác và tích cực đổi mới các PPDH theo hướng khai phá tiềm năng của người học, góp phần “thức tỉnh” các dạng trí tuệ tiềm ẩn của người học.

Mỗi dạng trí tuệ sẽ có các PPDH phù hợp và đặc trưng. Ví dụ: Các PPDH phù hợp với dạng trí tuệ ngôn ngữ gồm có kể chuyện, động não, viết nhật kí,., hoặc đối với dạng trí tuệ không gian thì có các phương pháp: vẽ tranh, lập mã bằng màu sắc, biểu tượng bằng đồ thị, sơ đồ tư duy; các phương pháp góp phần phát huy dạng trí tuệ giao tiếp như thảo luận nhóm,… Tuy nhiên, không có phương pháp nào là vạn năng hay duy nhất để “thức tỉnh” đầy đủ cả 8 dạng trí tuệ. Vì vậy, người dạy cần áp dụng linh hoạt nhiều PPDH khác nhau và phải biết cách lựa chọn phù hợp, phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp, có như vậy mới khơi dậy, phát huy tối đa các dạng trí tuệ ở người học. Hiểu biết về các dạng trí tuệ khác nhau còn giúp cho giáo viên thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá về khả năng, phong cách học tập đa dạng của người học, tránh sự áp đặt những cách học, cách dạy không phù hợp với đặc điểm cá nhân, khó phát huy tiềm năng của người học.

Đặc biệt, với vận dụng thuyết đa trí tuệ, nhà GD sẽ thực hiện được mục tiêu cá thể hóa trong dạy học, phát huy thế mạnh học tập riêng ở người học mà không đóng khung họ trong một mẫu chung kiểu “đo ni đóng giày”. 6 skkn Thông điệp của Howard Gardner truyền tải cho các GV rất rõ ràng: Khi giáo dục con người cần thông qua các điểm mạnh của họ, chúng ta không chỉ kích thích sự phát triển mà còn đặt niềm tin vào người học mới có thể đạt được các mục tiêu giáo dục. * Đối với người học: Thuyết đa trí tuệ không chỉ giúp bài học trở nên thú vị mà còn giúp học sinh tiếp cận, lưu giữ thông tin theo những cách khác nhau. Ý nghĩa cao nhất mà thuyết Đa trí tuệ mang đến là cá nhân hóa việc học: HS được học tập đúng phong cách, đặc điểm, nhu cầu và sở thích cá nhân, được phát huy thế mạnh riêng.

HS được đặt niềm tin và giữ vai trò trung tâm, chủ động và tích cực tiếp cận bài học theo cách riêng phù hợp. Đồng thời với hoạt động học, HS được đánh giá linh hoạt ở nhiều dạng trí thông minh đa dạng. Tránh một phương pháp học tập theo kiểu “một cỡ vừa cho tất cả”, áp đặt đóng khung người học trong hai loại hình trí tuệ ngôn ngữ và toán học/lôgic. Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học trong nhà trường phù hợp với yêu cầu thời đại 4.0 và nền giáo dục hiện đại Cách mạng 4.0 tất yếu dẫn đến nền giáo dục 4.

Tại đây, con người, máy móc, thiết bị, công việc liên kết với nhau để tạo nên nền GD thiên về đào tạo cá nhân hóa. Trong nền GD đó, “Trường học không tường” được xây dựng thành hệ sinh thái mà ở đó mọi người có thể dạy học ở mọi nơi, mọi lúc để tạo ra sản phẩm là những nhà sáng tạo và nhà khởi nghiệp, những công dân kĩ thuật số biết giải quyết các vấn đề phức tạp, có tư duy phân tích, phản biện, tư duy sáng tạo, có khả năng thích nghi với các thách thức, đặc biệt là trí tuệ cảm xúc (EQ). Như vậy, xu hướng giáo dục hiện đại, mục tiêu đào tạo không chỉ là những con người có kiến thức, kĩ năng làm việc mà còn cần các loại năng lực tổng hợp, các loại hình thông minh và các dạng trí tuệ đặc biệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Vận Dụng Thuyết Đa Trí Tuệ Trong Dạy Học Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà và Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông" khám phá cách áp dụng thuyết đa trí tuệ vào giảng dạy hai tác phẩm văn học nổi tiếng. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện và phát triển các loại trí tuệ khác nhau của học sinh, từ đó giúp họ tiếp cận văn bản một cách sâu sắc và toàn diện hơn. Bài viết không chỉ cung cấp những phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn khuyến khích giáo viên sáng tạo trong việc thiết kế bài học, nhằm nâng cao khả năng tiếp thu và tư duy phản biện của học sinh.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các phương pháp giảng dạy sáng tạo khác, hãy tham khảo bài viết "Skkn dạy học dự án sản xuất son môi từ thiên nhiên theo định hướng giáo dục steam", nơi bạn sẽ khám phá cách tích hợp giáo dục STEM vào giảng dạy. Ngoài ra, bài viết "Skkn vận dụng phương pháp socrates để xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu truyện ngắn chiếc thuyền ngoài xa của nguyễn minh châu nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh" cũng sẽ cung cấp cho bạn những kỹ thuật hữu ích để phát triển tư duy phản biện trong lớp học. Cuối cùng, bài viết "Luận văn tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của bảo ninh" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giá trị nhân văn trong văn học, từ đó làm phong phú thêm kiến thức giảng dạy của mình.