CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ CON NGƯỜI VÀ SỨC KHỎE MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1. Phương pháp BTNB 1. Khái niệm Phương pháp "BTNB" (BTNB) là một chiến lược giáo dục khoa học được sáng tạo và phát triển từ năm 1995 bởi Giáo sư Georger Charpak, người Pháp. Phương pháp này dựa trên cơ sở khoa học của quá trình tìm tòi - nghiên cứu và cho phép đáp ứng các yêu cầu dạy học mới.
BTNB đã được áp dụng, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ tại Pháp mà còn ở nhiều quốc gia với hệ thống giáo dục tiên tiến trên toàn cầu. Theo Georger Charpak: “Đây là phương pháp vận dụng giúp HS tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách: Đặt vào tình huống có vấn đề; từ thắc mắc đến dự đoán; tự mình khám phá tìm ra lời giải.21] Tại Việt Nam, một số nhà nghiên cứu sư phạm đã có những quan điểm về phương pháp này như sau: Theo Trịnh Văn Biều (2010): “Phương pháp BTNB là cách thức GV tổ chức cho HS tự nghiên cứu để tìm ra cách giải quyết cho những kiến thức trong chương trình học thông qua việc đề xuất, thảo luận và thực hiện các thực nghiệm.21] Nguyễn Văn Đằng (2015) nêu quan điểm: “Phương pháp BTNB là một phương pháp dạy học dựa trên thực nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên, trong đó chú trọng đến việc hình thành các kiến thức cho HS bằng các thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề của cuộc sống thông qua tiến hành các 10 thực nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…”.[8,tr4] Từ các quan điểm trên có thể nhận thấy về bản chất, Việc tìm hiểu và nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB là một khía cạnh quan trọng và cốt lõi. Quá trình này không đơn giản là một đường thẳng, mà là một quá trình phức tạp. Học sinh sẽ tiếp cận vấn đề thông qua tình huống được đặt ra (câu hỏi chủ đề của bài học), xây dựng giả thuyết và đưa ra nhận định ban đầu, sau đó đề xuất và thực hiện các thí nghiệm nghiên cứu.
Họ sẽ so sánh kết quả với các nhóm khác và đối chiếu với các giả thuyết ban đầu. Nếu kết quả không khớp, HS sẽ quay lại điểm xuất phát và thực hiện lại các thí nghiệm theo đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng. Cuối cùng, họ rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề ban đầu. Trong quá trình này, HS luôn phải sử dụng trí tuệ, trao đổi với các bạn trong nhóm và lớp học, tích cực tham gia để tìm hiểu kiến thức.
Dựa trên những cơ sở đó, chúng tôi đưa ra định nghĩa rằng: Phương pháp BTNB là một phương pháp giảng dạy tích cực, tập trung vào việc xây dựng kiến thức cho HS thông qua quá trình thực nghiệm tìm tòi và nghiên cứu. Phương pháp này đặt HS là trung tâm của quá trình nhận thức, cho phép các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề trong cuộc sống thông qua việc thực hiện thực nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hoặc điều tra. Các em trở thành người chủ động tìm hiểu và tiếp thu kiến thức, với sự hỗ trợ từ GV. Các nguyên tắc của phương pháp BTNB Phương pháp BTNB được vận dụng trên những nguyên tắc sau đây [11]: Một là: Học sinh cần quan sát một sự vật hoặc hiện tượng trong thế giới thực, tiếp cận gần gũi để dễ dàng cảm nhận và thực hiện các thí nghiệm liên quan đến chúng.
Hai là: Trong quá trình áp dụng phương pháp BTNB trong dạy học, GV đóng vai trò chỉ là người hỗ trợ và hướng dẫn, trong khi HS chính là người tìm ra câu trả lời cho các vấn đề trong cuộc sống thông qua việc thực hiện các thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hoặc tiến hành điều tra. Qua quá trình 11 này, HS tự xây dựng kiến thức cho bản thân. Ba là: Trong quá trình tìm hiểu, HS có thể lập luận và bảo vệ ý kiến của mình, tham gia vào các cuộc thảo luận nhóm để trao đổi ý nghĩ và rút ra những kết luận cá nhân. Những hiểu biết này không thể được hình thành nếu chỉ có các hoạt động và thao tác đơn lẻ mà thiếu đi sự góp ý và thảo luận tập thể.
Bốn là: Với một vấn đề khoa học được đề xuất, HS có khả năng đặt ra các câu hỏi và giả thuyết dựa trên hiểu biết ban đầu của mình. Họ tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và rút ra những kết luận phù hợp thông qua quá trình thảo luận, so sánh, phân tích và tổng hợp kiến thức. Năm là: GV chỉ đóng vai trò đề xuất và tổ chức các hoạt động thực nghiệm cho HS theo một tiến trình sư phạm cụ thể. GV không cung cấp sẵn những giải pháp cho HS.
Các hoạt động do GV đề xuất được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao từng bước mức độ học tập. Qua đó, chương trình học tập được nâng cao và HS có một phần tự chủ đáng kể. Sáu là: Để áp dụng phương pháp BTNB, cần dành ít nhất 2 giờ mỗi tuần trong nhiều tuần liên tiếp cho một đề tài. Sự liên tục của các hoạt động và phương pháp giáo dục được đảm bảo suốt quá trình học tập.
Bảy là: Áp dụng phương pháp BTNB, mỗi HS được yêu cầu sử dụng quyển vở thực hành cá nhân để ghi chép theo ngôn từ và phong cách riêng của mình. Tám là: Mục tiêu chính của phương pháp BTNB là giúp HS hiểu và áp dụng các khái niệm khoa học và kỹ thuật thực hành. Đồng thời, phương pháp này cũng hỗ trợ củng cố kỹ năng ngôn ngữ viết và nói của HS. Chín là: Các hoạt động do GV đề xuất cho HS được tổ chức theo lịch học nhằm đạt được tiến bộ trong quá trình học tập.
Những hoạt động này liên quan mật thiết đến chương trình và đề cao sự tự chủ của HS. Mười là: Mỗi HS sẽ có một quyển vở thực hành và sử dụng ngôn ngữ cá nhân để trình bày. Quyển vở thực hành đóng vai trò quan trọng trong 12 phương pháp "BTNB". Đó là nơi tập trung của quá trình học tập khoa học và phát triển ngôn ngữ.
Bởi vì trong quyển vở, HS ghi lại suy nghĩ, thể hiện hiểu biết và hoạt động của mình bằng ngôn ngữ cá nhân, có sự chỉnh sửa và cải thiện, ghi nhận những dấu vết của những thử nghiệm liên tục. Điều này cho phép HS đánh giá sự tiến bộ của mình trong việc sử dụng ngôn ngữ, chất lượng lý lẽ và nhận thức khoa học. Phương pháp này đặt HS vào vai trò của một nhà nghiên cứu khoa học. Họ tự khám phá và tìm hiểu kiến thức thông qua việc thực hiện các thí nghiệm khoa học, tham gia trao đổi và thảo luận nhóm dưới sự hướng dẫn của GV.
Học sinh tiến bộ dần qua quá trình học tập bằng cách đặt câu hỏi và nghi ngờ. Họ trao đổi quan điểm với bạn bè về các vấn đề khoa học và được kiểm tra tính đúng đắn thông qua việc thực hiện các thí nghiệm. Trong phương pháp "BTNB", HS có thể tự do trình bày quan điểm của mình về sự vật, hiện tượng. Đó là hiểu biết ban đầu của họ, có thể đúng, chưa đầy đủ hoặc đôi khi sai, ngây thơ và ngớ ngẩn.
Tuy nhiên, những hiểu biết đó vẫn được tôn trọng, khuyến khích và hỗ trợ. Khi HS đưa ra ý tưởng ban đầu về vấn đề, GV không đưa ra nhận xét đúng/sai mà để HS tự nhận ra trong quá trình kiểm tra giả thuyết. Đặc điểm của phương pháp BTNB Phương pháp BTNB áp dụng trong dạy học có 4 đặc điểm quan trọng như sau [11]: Thứ nhất, Phương pháp BTNB tập trung vào quan niệm ban đầu của HS về kiến thức mới được truyền đạt trong chủ đề hoặc môn học. Thứ hai, Phương pháp BTNB sử dụng vở thực hành (vở nghiên cứu) như một công cụ để phát triển kỹ năng ngôn ngữ và thực hành ghi chép trong nghiên cứu khoa học.
Thứ ba, Sử dụng phương pháp BTNB, không có sự đánh giá về tính đúng hay sai của quan điểm và ý kiến của HS. Thông qua quá trình thực nghiệm, HS sẽ tự đánh giá và trải nghiệm để rút ra những kết luận. Như các 13 phương pháp dạy học tích cực khác, phương pháp "BTNB" luôn đặt HS là trung tâm của quá trình nhận thức, khuyến khích họ tự tìm ra câu trả lời và hiểu biết, đồng thời được hỗ trợ bởi GV. Thứ tư, Phương pháp "BTNB" được áp dụng chủ yếu trong việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên, công nghệ, thực nghiệm và các chủ đề liên quan đến thực tế của HS.
Mục tiêu của phương pháp này là khuyến khích sự tò mò, lòng ham muốn khám phá và đam mê khoa học của HS. Ngoài việc tập trung vào kiến thức khoa học, phương pháp "BTNB" cũng đặc biệt chú trọng vào việc phát triển kỹ năng diễn đạt qua ngôn ngữ nói và viết cho HS. Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp BTNB a) Những ưu điểm Phương pháp BTNB khi vận dụng vào dạy học có những ưu điểm như sau [16]: - Phương pháp BTNB tập trung vào kiến thức khoa học, nhằm kích thích tính tò mò, ham muốn khám phá và sự đam mê với khoa học của HS. - Phương pháp BTNB có thể áp dụng để phát triển kỹ năng diễn đạt qua ngôn ngữ nói và viết cho HS, cũng như kỹ năng xử lí tình huống, phán đoán, lập luận và bảo vệ ý kiến cá nhân.
- Vì phương pháp BTNB khi được áp dụng trong quá trình dạy học, yêu cầu HS tham gia vào quá trình hình thành các câu hỏi và tiến hành thực nghiệm theo cách riêng của mình. Trong quá trình làm thực nghiệm trực tiếp, HS sẽ tự đặt câu hỏi, tự thao tác các thực nghiệm để tìm ra câu trả lời và rút ra các kết luận nên GV không phải tốn thời gian cho việc thuyết trình giảng giải và kiến thức được HS tiếp nhận một cách tự nhiên, thoải mái, không gò ép. - Phương pháp BTNB khuyến khích HS phát huy nhiều kỹ năng như đặt câu hỏi, đề xuất dự đoán, giả thiết, phương án thực nghiệm, phân tích dữ liệu, giải thích và bảo vệ các kết luận thông qua trình bày bằng lời nói và viết. Thông qua đó HS mạnh dạn tự tin hơn trước đám đông.