Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở theo định hướng phân luồng học sinh. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ theo định hướng phân luồng học sinh. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ theo định hướng phân luồng học sinh. CO SO LY LUAN VE QUAN LY HOAT DONG GIAO DUC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHAN LUONG HOC SINH 1.
Tổng quan nghiên cứu vẫn đề quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở theo định hướng phân luồng học sinh 1. Nghiên cứu về hoạt động giáo dục hướng nghiệp và phân luéng học sinh - Nghiên cứu ở nước ngoài Cuối thế kỉ XIX, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên. Năm 1909, Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS dựa trên hứng thú, năng khiếu, sở thích, năng lực của cá nhân. Keller và Viteles đưa ra tầm nhìn toàn thế giới về hướng nghiệp và tư vấn năm 1937.
Một số quốc gia sử dung cac thuat ngir : “huéng dan nghé - vocational guidance” „” , “tu van nghé - 66. vocational counselling”, “thong tin, ty van va huong dan — information, advice ad guidance” dé chỉ các hoạt động hướng nghiệp. Từ thế kỉ XX sang đầu thế ki XXL tư vấn và hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ trong môi trường giáo dục các nước. Những nghiên cứu trên là cơ sở lý luận có ý nghĩa là tiền đề cho các tác giả khác khi nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng sau này.
- Nghiên cứu ở trong nước: Đảng Cộng sản Việt Nam thê hiện rõ quan điểm giáo dục trong lĩnh vực hướng nghiệp dạy nghề phô thông, Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra: Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động, lý luận đi với thực hành; cần củ đi với tiết kiệm [20]. Quan điểm giáo dục của Đảng là tư tưởng xuyên suốt mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu giáo dục hướng nghiệp nói riêng: có tính định hướng cho nội dung nghiên cứu của các tác giả Việt Nam khi 7 nghiên cứu về đề tài giáo dục hướng nghiệp trong nước. Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp của nước ta, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường với các cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho HS phổ thông và cơ sở sản xuất [17]. Các tác giả: Nguyễn Minh Đường, Đoàn Chi, Nguyễn Đức Trí, Trần Xuân Xước, Tô Bá Trọng, Nguyễn Viết Sự, Phạm Huy Thụ.
đã đưa ra các khái niệm, kinh nghiệm, số liệu giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cho HS phổ thông, kinh nghiệm tô chức hướng nghiệp, lao động SX cho HS trường THPT và trung tâm KT TH-HN. Công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông của nước ta theo Quyết định số 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phô thông và việc sử dụng hợp lí HS THCS, THPT tốt nghiệp ra trường từ ngày 19/3/1981. Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở theo định hướng phân luông học sinh - Nghiên cứu ở nước ngoài: Có rất nhiều các chuyên gia nước ngoài nghiên cứu về GDHN và quản lý hoạt động GDHN. Năm 1848, cuốn sách “ /#ớng dân chọn nghể” đã được xuất bản ở Pháp.
Tác phâm đã đem đến ý nghĩa rất lớn đối với thế hệ trẻ. Cuốn sách giúp cho độc giả và xã hội có những phân tích, cơ sở lựa chọn nghề nghiệp dé str dung có hiệu quả nguồn lao động, đặc biệt nguồn lao động là thanh niên. Tiếp đó có hàng loạt những công trình nghiên cứu có giá tri cla Wolfgang Schulz, Ulrich Johannes Kledzik ( Duc). Cac tac gia: Michaell Schumann, Rolf Oberliesen, Gehart Duismann, Helmut Keim, H.Sellin đã đưa ra các công trình nghiên cứu về phương thức tô chức cho HS phổ thông thực tập tại các xí nghiệp, nhà máy, các cơ sở kinh doanh.
Điều này vô cùng có ý nghĩa cho các cơ sở đảo tạo nghề cũng như các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh và đem đến niềm vui, niêm tin cho người lao động. - Nghiên cứu ở trong nước + Những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp “ Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [17] đó là ý nghĩa, nội dung mà tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến trong công trình nghiên cứu của mình. Phạm Huy Thụ nghiên cứu vấn đề: ““ Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phô thông phục vụ mục tiêu đào tạo, gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội” [30]. Tác giả Phạm Minh Hạc thuyết phục người đọc bằng quan điểm: Muốn có được nguồn nhân lực phù hợp với cơ câu đảo tạo thì phải: “Chứ trọng giáo dục hướng nghiệp thiết thực cho học sinh phổ thông, giúp các em chọn nghệ phù hợp với sở trường, trình độ, nhu cầu phát triển của bản thân va yéu cau phát triển đất nước” [14].
+ Các nghiên cứu về phân luông học sinh Nguyễn Đức Trí với đề tài “Sự thay đổi diện mạo và cơ cầu ngành đào tạo trung học chuyên nghiệp ở nước ta trong thời gian tới”, đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của sự thay đôi toàn diện; dự báo một số thay đổi diện mạo và cơ cấu ngành đào tạo THCN đến năm 2010; đề xuất hướng đổi mới mục tiêu đảo tạo và nội dung chương trình đào tạo phù hợp yêu cầu nguồn nhân lực [32]. Những giải pháp hướng nghiệp và phân luông học sinh sau trung học cơ sở ở Đông bằng sông Cửu Long của tác giả Phạm Văn Khanh trong Tạp chí Khoa học giáo dục số 52, tháng 1/2010 đã đề xuất bốn nhóm giải pháp dé tháo gỡ những khó khăn trong việc phân luồng học sinh THCS ở Đồng bằng sông Cửu Long [19]. “Phân luỗng HS sau THCS và THPT góp phân nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tình Đông Tháp trong thời kỳ hội nhập” (2010), được tác giả Hồ Văn Thống đã phân tích nguyên nhân của những bất cập về phân luồng học sinh sau THCS và THPT ở Đồng Tháp và đề xuất các giải pháp khắc phục [29]. 9 Bài viết “Phân luông học sinh sau trung học - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Đắc Hưng (2014) đã nghiên cứu thực trạng, tìm ra những khó khăn trong công tác phân luồng học sinh sau THCS, từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục [18].
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế đã được công bố: Tác giả Đỗ Thị Bích Loan (2012) trong bài viết “Phân luông trong hệ thống giáo dục của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc phân luồng học sinh sau giáo dục phô cập (trung học cơ sở) và rút ra những bài học đối với Việt Nam [22]. Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích mối quan hệ giữa phân luồng và liên thông trong giáo dục với học tập suốt đời và xã hội học tập trong bài viết “ Phân luông và liên thông trong hệ thông giáo dục hướng đến xã hội học tập” [21] và đề xuất một số giải pháp thúc đây phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục hướng tới xã hội học tập. Năm 2015, trong công trình công bố của tác giả Đỗ Thị Bích Loan và Nguyễn Thuy Vân “Career Guidance in Secondary schools - A literature Review and Strategic Solutions for Vietnamese Rural Areas” [34] da phan tích, nghiên cứu tổng quan về vai trò của GDHN trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam và một số nước trong khu vực và trên thế giới. Từ đó, đề xuất các giải pháp mang tính định hướng chiến lược về GDHN cho HS THCS ở vùng nông thôn Việt Nam nhằm góp phần làm giảm tỷ lệ cử nhân thất nghiệp hiện nay và cung ứng đủ số lượng công nhân nghề phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn.
+ Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường đối với việc phân luồng học sinh Năm 2005, Hội thảo “Đối thoại Pháp Á về các vấn đề và hướng đi cho GDHN tại Việt Nam” đã được tô chức với sự phối hợp nghiên cứu giữa khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội với Viện Nghiên cứu quốc gia về lao động 10 hướng nghiệp Cộng hòa Pháp. Tại hội thảo này đã có nhiều ý kiến tham luận về hướng đi cần thiết cho giáo dục nước ta. Đề tài cấp Viện, 2008, điểu ra xu hướng nghệ nghiệp của học sinh trung học phổ thông do tác giả Bùi Đức Thiệp làm chủ nhiệm. Đề tài đã điều tra khảo sát thực tế và tác động của các nhân tố liên quan đến xu hướng nghề nghiệp của HS THPT, từ đó đề xuất một số khuyến nghị để nâng cao chất lượng công tác giáo dục hướng nghiệp nhằm phân luồng HS THPT [28].
Tac gid Bui Thi Thay Hang (2014) trong bài viết “Định hướng nghề nghiệp của học sinh tại Pháp và giải pháp phân luỗng sau trung học cơ sở tại Việt Nam” đã nghiên cứu về công tác định hướng nghề nghiệp cho HS sau THCS ở Pháp. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm cải tiến việc phân luồng HS tại Việt Nam [15]. Tác giả Đỗ Thị Bích Loan (2019) trong bài viết “Mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp với phân luông học sinh sau Trung học cơ sở” đã phân tích mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau của GDHN và phân luồng HS dé thay rõ vai trò của GDHN trong việc chuẩn bị đội ngũ lao động có nghề với cơ cấu trình độ và cơ cấu ngành nghề phù hợp cho phát triển của đất nước [25]. Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần làm sáng tỏ các khái niệm cốt lõi liên quan đến phân luồng, GDHN; phân tích thực trạng GDHN và phân luồng HS ở một số địa phương; đề xuất những giải pháp phân luồng HS sau THCS và THPT ở nước ta dưới những góc độ khác nhau.
Cũng như các nước đang phát triển trên thế giới, Việt Nam đang đứng trước những mâu thuẫn và áp lực lớn trong thị trường lao động. Giải quyết việc làm là một trong những khâu cực kỳ quan trọng để phát triển đất nước.