Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 1. Ở nước ngoài Ý tưởng về việc học qua trải nghiệm và học qua hoạt động đã xuất hiện từ rất lâu. Hơn 2000 năm trước, Khổng Tử, đã nói: “Khi tôi nghe, tôi có thể quên.
Khi tôi thấy, tôi sẽ ghi nhớ. Nhưng khi tôi thực hiện, tôi sẽ hiểu". Điều này có lẽ là nguồn gốc đầu tiên của ý tưởng này. Tương tự, Sokratcs, một lành Hy Lạp từ thế kỷ thứ 5 TCN, đã nhấn mạnh: “Chúng ta học bằng cách thực hiện.
Bạn sẽ không thực sự chắc chắn về điều bạn biết cho đến khi bạn thực hiện nó" [16]. Việc giáo dục thông qua trải nghiệm chỉ được thực sự áp dụng vào giáo dục hiện đại vào đầu thế kỷ XX. Với việc thành lập Hiệp hội Giáo dục Trải nghiệm vào năm 1977, khái niệm “Giáo dục trải nghiệm” đã được công nhận chính thức. Thêm vào đó, UNESCO đã thông qua chương trình “Dạy với mục tiêu hướng tới một tương lai vững chắc” tại hội nghị “Liên hiệp Hiệp Quốc về Phát triển Bền vững năm 2002, đã nhấn mạnh vào việc học thông tin qua trải nghiệm” [17].
Hoạt động không chỉ là chất liệu của mỗi cá nhân mà còn là nền tảng của toàn xã hội, bất kể bối cảnh lịch sử nào. Theo lý thuyết hoạt động, quá trình tham gia vào các hoạt động là yếu tố then chốt để mô hình hóa và phát triển tâm lý, dạng và tính cách của con người. Việc này đã nâng cao tầm quan trọng của công việc hướng dẫn và tổ chức các hoạt động giáo dục cho sinh viên, trong nhiều bối cảnh và phong cách, phù hợp với sự phát triển về chất liệu hỗn hợp thần thánh ở từng mức độ khác nhau. Thêm vào đó, lý thuyết thuyết văn hóa và lịch sử, môi trường xã hội qua từng thời đại không chỉ là nền tảng và phương tiện tiện ích mà còn là bối cảnh quyết định sự phát triển tâm lý của cá nhân.
Chúng ta cần nhìn nhận tâm lý con người như là kết quả của việc làm nội tâm hóa những yếu tố xã hội xã hội, trở thành một phần không thể tách rời bản thân mỗi học sinh trong quá trình giáo dục. Lev Vygotsky đã chỉ rõ: “Trong giáo dục, trong một lóp học, cần coi trọng sự khám phá có trợ giúp hơn là sự tự khám phá” [9]. Ông cho rằng “sự khuyến khích bằng ngôn ngữ của GV và sự cộng tác của các bạn cùng tuồi trong học tập là rất quan trọng” [9]. 6 John Dewey, một nhà giáo dục nổi tiếng ở Mỹ, đã chỉ ra những chế độ giáo dục giới hạn và nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc học thông qua trải nghiệm.
Kolb đã phát triển mô hình học tập trải nghiệm bao gồm bốn giai đoạn: từ trải nghiệm, đến quan sát, hình thành khái niệm và cuối cùng là thử nghiệm. Một số nhà tâm lý học và giáo dục học khác, như Howard Gardner và Jean Piaget, đã khám phá và giải quyết sự đa dạng của trí tuệ và quá trình hình thành và phát triển nhận thức của mỗi học sinh[13] [21]. Jean Piaget đã nhận định: “Các cá nhân, trong trường hợp tương tác cùng nhau, khi có những mâu thuẫn nhận thức xuất hiện đã tạo ra sự mất cân bằng về nhận thức, do đó đã thúc đẩy khả năng và hoạt động nhận thức, thúc đẩy sự phát triển nhận thức của mỗi người"[13]. Theo Howard Gardner cho rằng: “mỗi người trong chúng ta đều tồn tại một vài kiểu thông minh như: logic toán học, không gian, ngôn ngữ, âm nhạc, thiên nhiên, vận động cơ thể.
Sẽ có những loại trí thông minh khác nhau nổi trội hơn ở mỗi cá nhân khác nhau và mỗi cá nhân hầu như đều đạt đến một mức độ nào đó ở từng phạm trù thông minh khác nhau. Và mức độ này có thể sẽ thay đổi (tăng hay giảm) tùy vào khả năng mỗi cá nhân tự trau dồi. Điều này cho thấy mỗi GV phải đề cao sự đa dạng về trí tuệ ở trẻ, phải là khơi gợi tiềm năng, là nơi giúp đỡ, tạo điều kiện học tập cho các em. Việc áp dụng tổng hợp, linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực sẽ tạo ra môi trường học tập rất hiệu quả theo hướng đa trí tuệ.
Nghĩa là phải xây dựng và tổ chức được các hoạt động học hứng thú và hiệu quả” [21]. Một số chuyên gia quốc tế đã xác nhận rằng giáo dục trải nghiệm mạnh mẽ và hợp lý giữa bài học lý thuyết và hoạt động thực tế, thúc đẩy nâng cao hiệu suất học tập. Sakofs (1995) cho biết: "Việc học thông qua trải nghiệm cần kết hợp trải nghiệm của người học với việc tự phản ánh ánh sáng và phân tích". Chapman, McPhee và Proudman (1995) nhấn mạnh rằng chỉ trải nghiệm chưa đủ, mà việc phản ánh ánh sáng chính là yếu tố chuyển kinh nghiệm thành quá trình học tập có chất lượng.
Đồng thời, nhiều học giả nổi tiếng khác như Kurt Lewin, William James, và Paulo Frcirc, cùng nhiều tên tuổi khác, đã đề xuất và ủng hộ quan điểm này. Họ đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia, tương tác và kinh nghiệm trong việc phát triển cá nhân. 7 Nhìn một cách tổng quát, các quan điểm về dạy học qua trải nghiệm đều được đánh giá cao trên toàn thế giới, đặc biệt trong việc thiết kế và thực hiện các hoạt động học dựa trên trải nghiệm. Rất nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore đã tích cực áp dụng quan điểm này trong chương trình giáo dục của mình và mang lại nhiều kết quả đáng kể.
Ở Việt Nam Tại Việt Nam, việc áp dụng học qua trải nghiệm trong học tập Toán học cho học sinh lớp 2 tại các trường Tiểu học vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu. Mặc dù đã được nhắc đến từ trước, nhưng công việc này chưa thực sự phổ biến và chưa được nhiều tài liệu, nghiên cứu hay thảo luận rõ ràng. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, tôi đã tham khảo một số tài liệu nghiên cứu và thu thập thông tin có liên quan. Luật giáo dục năm 2010 cho biết: “HĐGD phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành động, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” (điều 3, 2010).
Đồng thời, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tổ chức hoạt động học thông qua trải nghiệm [13]. GS Phạm Minh Hạc, nhà nghiên cứu tiên phong về lý thuyết giáo dục đã nhấn mạnh: “Nhà trường hiện đại ngày nay là nhà trường hoạt động. Hoạt động không chỉ rèn luyện trí thông minh bằng hoạt động, mà còn thu nhỏ hoạt động của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao" [9]. Ông còn cho rằng “hoạt động giáo dục thông qua trải nghiệm giúp học sinh tự cảm nhận và thay đổi từ bên trong” [8].
Nguyễn Bá Kim, trong kỷ yếu Hội thảo quốc gia về giáo dục toán học phổ thông năm 2011, đã chỉ ra rằng “việc tổ chức học qua hoạt động sẽ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động, tự giác và sáng tạo” [3]. Mới đây, trong bài trao đổi về trải nghiệm trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, Đinh Thị Kim Thoa đã xác định “hoạt động học thông qua trải nghiệm (HDTN) là hoạt động giáo dục bắt buộc, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tham gia trực tiếp vào nhiều hoạt động trong và ngoài trường để phát triển năng lực thực tiễn, tạo ra sản phẩm với sự hứng khởi và sáng tạo” [22]. Thêm vào đó, tác giả còn lưu ý khác biệt giữa học qua làm và học qua trải nghiệm, với trải nghiệm mang tính cá nhân hơn và liên quan đến cảm xúc của học sinh. 8 Như vậy, việc học thông qua trải nghiệm đang được coi trọng và đang dần dần trở thành một xu hướng trong giáo dục hiện đại.
Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc ứng dụng hoạt động học thông qua trải nghiệm (HDTN) đang nhận được nhiều quan tâm. Một số tài liệu quan trọng từ Bộ GD&ĐT và các nhà nghiên cứu chuyên ngành hàng đầu đã đề cập đến lĩnh vực này. Trong tài liệu hướng dẫn từ Bộ GD&ĐT vào năm 2015 mang tên "Kĩ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong trường trung học", nhiều nghiên cứu từ những chuyên gia giáo dục hàng đầu về HĐTN đã được thực hiện biên soạn một cách tổ chức và chi tiết. Nó đã giải thích các khía cạnh chung của HĐTN, từ khái niệm, đến mục tiêu, và cách thức thực hiện HĐTN trong hệ thống trường phổ thông, cùng với việc đánh giá học thông qua trải nghiệm dựa trên phương pháp và công cụ xác định.
Sách “Tổ chức HĐTN trong nhà trường phổ thông” của Nguyễn Thị Liên đã hệ thống hoá các viền quanh yếu yếu liên quan đến HĐTN trong trường học, từ nền tảng lý thuyết, đến phương pháp, nội dung và định hướng đánh giá, cùng các khuyến nghị về thiết kế HĐTN [15]. Trong một nghiên cứu của ThS. Bùi Ngọc Diệp từ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã đề cập đến các phương thức tổ chức HĐTN trong các nhà trường phổ thông và chỉ ra rằng “hoạt động trải nghiệm là những hoạt động giáo dục thực tế diễn đàn ra song hành với giảng dạy” [7]. Đáng chú ý, Ngô Thị Thu Dung đã trình bày quy trình 8 bước chi tiết cho công việc thiết kế và ứng dụng HĐTN vào quá trình triển khai ở nhà trường.
Trong một bài viết khác, tác giả Nguyễn Hữu Tuyến từ CĐSP Bắc Ninh đã nêu quan điểm về việc phát triển năng lực toán thông qua HĐTN ở cấp trung học cơ sở [17]. Các phân tích và bài nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng về sự cần thiết và tầm quan trọng của Hoạt động trải nghiệm trong lĩnh vực giáo dục và giảng dạy. Không chỉ đó, thông qua công việc tập trung nghiên cứu về trải nghiệm ngoài giờ học chính thức, các nghiên cứu giúp thực hiện hóa mục tiêu giáo dục, trong đó học sinh không chỉ hấp thụ kiến thức mà còn được tiếp xúc, trải nghiệm thử nghiệm và vận dụng kiến thức vào thực tế. Mức độ tiếp cận sâu rộng này giúp họ phát triển một cách toàn diện, không chỉ về kiến trúc mà còn về kỹ năng, tư duy và sản phẩm hạnh phúc.
9 Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều công trình và bài nghiên cứu chi tiết về HĐTN, việc áp dụng phương pháp này trong Môn Toán - một môn học quan trọng và cơ bản, ở cấp Tiểu học, đặc biệt trong bối cảnh bối cảnh của chương trình Giáo dục Phổ thông 2018.