CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ DIỄN ĐẠT CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC 1. Cơ sở lý luận của phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho học sinh lớp 4 1. Những vấn đề cơ bản về trò chơi học tập 1. Khái niệm trò chơi học tập a.
Trò chơi Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chơi”, có thể điểm qua một vài định nghĩa về “chơi” như: + “Chơi là hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi, không có mục đích gì khác” [13] + “Chơi là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi” [8] + “Chơi là một hoạt động vô tư, người chơi không chú tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên với xã hội được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái, dễ chịu” [13]. + “Chơi là kiểu hành vi hoặc hoạt động tự nhiên, tự nguyện, có động cơ thúc đẩy là những yếu tố bên trong quá trình chơi và chủ thể không nhất thiết theo đuổi những mục tiêu và lợi ích thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó. Bản thân quá trình chơi có sức cuốn hút tự thân và các yếu tố tâm lý của con người trong khi chơi nói chung mang tính chất vui đùa, ngẫu hứng, tự do, cởi mở, thư giản, có khuynh hướng thể nghiệm những tâm trạng hoặc tạo ra sự khuây khỏa cho mình” [5] Trên quan điểm macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng, trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội. Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục [4] 11 Còn tác giả Đặng Thành Hưng thì cho rằng trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa.
+ Một là kiểu loại phổ biến của chơi. Đó chính là các trò chơi có luật chơi và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia. + Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi. Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản.
Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó. Tóm lại, trò chơi chính là sự chơi có luật, những hành vi chơi tùy tiện, bất giác không gọi là trò chơi [5] Như vậy có thể thấy các tác giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau về trò chơi nhưng đều có những điểm chung là các hoạt động mang tính tự nhiên, thường thực hiện nhằm mục đích giải trí hay vui vẻ và đôi khi cũng được sử dụng như một công cụ giáo dục, giúp cho cá nhân được vui vẻ, giúp cho tập thể có được bầu không khí vui vẻ, thân thiện. Trò chơi học tập Có thể hiểu trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng các hoạt động giải trí hoặc vui đùa mang tính tự nhiên, tạo sự hấp dẫn cho người học từ đó duy trì sự chú ý của người học với bài học đó. Trò chơi học tập là loại trò chơi có luật, đòi hỏi trẻ phải thực hiện một quá trình hoạt động trí tuệ để giải quyết nhiệm vụ học tập được đặt ra như nhiệm vụ chơi, qua đó mà trí tuệ và ngôn ngữ của trẻ được phát triển.
Trò chơi học tập là loại trò chơi mà nhiệm vụ trí lực được thực hiện dưới hình thức nhiệm vụ vui chơi thoải mái. Nội dung học tập được lồng ghép vào nội dung chơi, động cơ học tập hòa quyện vào động cơ chơi. Phân loại trò chơi học tập trong dạy học tiểu học Khi phân loại trò chơi, có thể căn cứ vào các mục đích dạy học, nội dung dạy học, các đặc điểm hay yêu cầu tổ chức trò chơi để phân loại trò chơi theo một số dạng khác nhau. Bảng phân loại trò chơi học tập Loại trò Mục tiêu Tác dụng Đặcđiểm Yêu cầu chơi Thư giãn, kích Tạo hưng phấn Chơi ra chơi, Trò chơi đa Khởi động hoạt tâm thế trước khi học học ra học dạng học tập Thao tác chơi Sử dụng kĩ Kích thích Kích thích tính Học hào hứng, là hình thức thuật, công học tập tích cực học tập sôi động học tập nghệ Trải nghiệm, Thao tác chơi Khám phá Khám phá tri tạo tình huống là nội dung Sáng tạo tri thức thức có vấn đề học tập 1.
Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển của học sinh lớp 4 - Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức học tập của HS, giúp học sinh có thể tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên và tích cực hơn, từ đó HS sẽ cảm thấy vui hơn, thoải mái hơn, các em có thể tiếp thu bài một nhanh chóng, đem lại kết quả học tập cao hơn. - Giúp học sinh được rèn luyện củng cố kiến thức cũng như kỹ năng, kỹ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ và từ đó quá trình dạy học được diễn ra hấp dẫn hơn, tạo cơ hội học tập đa dạng hơn cho HS. - Trò chơi mang đặc tính thi đua cao, kích thích HS vận dụng hết khả năng về sức lực, tập trung sự chú ý, trí thông minh và sự sáng tạo của mình để hoàn thành nhiệm vụ học tập. 13 Trò chơi học tập giúp học sinh phát triển toàn diện kể cả về thể chất lẫn tinh thần một cách tự nhiên, thoải mái từ đó tạo điều kiện cho HS hoàn thành nhiệm vụ học tập với kết quả cao hơn so với các tiết dạy học thông thường không có tổ chức dạy học thông qua trò chơi.
Như vậy có thể khẳng định rằng tác dụng của “trò chơi học tập” là rất lớn, giúp HS phát huy được hết vốn kinh nghiệm và kiến thức, kỹ năng của mình trong quá trình học tập các môn học nói chung và môn Khoa học nói riêng. Nguyên tắc tổ chức trò chơi học tập cho học sinh lớp 4 Việc tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Khoa học nói chung và môn Khoa học lớp 4 nói riêng, chúng ta cần phải dựa vào nội dung bài học, điều kiện thời gian trong mỗi tiết học cụ thể để đưa ra các trò chơi cho phù hợp. Song muốn tổ chức được trò chơi học tập có hiệu quả cao, GV cần thực hiện tuân thủ theo các nguyên tắc sau: - Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục. - Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú.
- Trò chơi phải được chuẩn bị chu đáo (về cách thức tổ chức, đồ dùng .) - Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh. - Tổ chức trò chơi phải đảm bảo yêu cầu vừa sức để mọi HS bình thường có thể giải quyết được. - Trong quá trình tổ chức trò chơi cần có yếu tố sáng tạo để học sinh có điều kiện vận dụng kiến thức một cách linh hoạt và sáng tạo hơn. - Nội dung trò chơi nên thể hiện nhiều dạng bài tập, nhiều hình thức thể hiện khác nhau thể hiện ở các mức độ đơn vị kiến thức để không gây sự nhàm chán cho HS.
- Ngoài ra, các dụng cụ, vật liệu sử dụng cho trò chơi phải đảm bảo nguyên tắc: + Tiện dụng + Dễ làm (ai cũng có thể làm được, làm nhanh) + Rõ ràng, đẹp mắt, nổi bật nội dung trò chơi. 14 + Có phần thể hiện diễn đạt được từng yêu cầu (đúng, nhanh, đẹp) + Tiết kiệm (sử dụng được nhiều lần, làm bằng các vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền) 1. Những vấn đề cơ bản về ngôn ngữ diễn đạt và phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho học sinh lớp 4 1. Khái niệm ngôn ngữ Trên thế giới tồn tại nhiều quan niệm về ngôn ngữ dưới đây là một số cách hiểu: Theo cách hiểu thông thường, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu bao gồm hệ thống những từ, những âm và các quy tắc kết hợp các từ mà người trong cùng một cộng đồng hoặc nơi sống để giao tiếp với nhau, dùng để diễn đạt, thông báo một nội dung nào đó.
Theo lối duy danh định nghĩa có thể hiểu ngôn ngữ theo hai mặt: ngôn và ngữ. Ngôn là lời nói do các cá nhân trong xã hội nói ra mà ta nghe được. Lời nói được tạo ra bởi các âm, các thanh và chứa đựng nội dung thông tin, có thể gồm một hoặc nhiều câu nói. Theo lý thuyết về sự kết hợp: ngôn ngữ là sự kết hợp các từ ngữ với đồ vật, các động từ với hành động, các tính từ với biểu lộ trạng thái cảm xúc… Tuy nhiên học thuyết này không lí giải được vì sao con người lại sử dụng được ngôn ngữ và vì sao con người lại kết hợp được từ ngữ.
Vì theo học thuyết thì có nhiều từ không thể gắn được như những từ mang tính trừu tượng ví dụ như: “ tò mò”, “ ý tưởng ”. Bên cạnh đó sự hạn chế của học thuyết chỉ dừng lại ở việc chỉ ra việc học ngôn ngữ mang tính chất học những từ đơn giản chứ ko trả lời được các câu hỏi mang tính chất tư duy. Ví dụ: học từ Cái áo kết hợp với nhìn cái áo nhưng không thể trả lời câu hỏi: đây là cái áo à? Vào năm 1975, Skiner đã đưa ra thuyết hành vi tạo tác. Ông cho rằng, ngay từ khi mới sinh ra trẻ đã đã bập bẹ hay phát ra các âm thanh khi nô đùa và hóng chuyện với người xung quanh.
Thông qua hoạt động giao tiếp củng 15 cố của cha mẹ và những người xung quanh, trẻ có thể nhắc lại các âm thanh và phát triển dần lên và điều chỉnh những âm thanh đó với các từ chuẩn.Từ đó hình thành nên hệ thống ngôn ngữ hoàn chỉnh. Tuy nhiên theo học thuyết của Skinner ông xem ngôn ngữ cũng tương tự như cách thức hành vi khác - nghĩa là nếu chúng ta nhận được những củng cố tích cực thì chúng ta sẽ lặp lại hành động tích cực đó. Sự vận dụng học thuyết đó lí giải sự phát triển của trẻ em lại quá đơn giản và không phù hợp. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em diễn ra nhanh hơn rất nhiều so với quá trình học thuyết đưa ra.
Vào năm 1965 - nhà ngôn ngữ học người N.Chomsky đã đưa ra học thuyết mới hoàn toàn đối lập với Skiner.