CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI QUA TRẢI NGHIỆM MÔ PHỎNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Nghiên cứu về kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích của trẻ em Các nghiên cứu theo hướng này trước hết nhìn nhận KN phòng tránh TNTT là một trong những KNS quan trọng của trẻ em, đồng thời xác định một số KN cụ thể giúp trẻ phòng tránh TNTT có hiệu quả khi gặp tình huống có nguy cơ tiềm ẩn. Về nghiên cứu KN phòng tránh TNTT là một trong những KN sống quan trọng của trẻ em: TNTT đang trở thành một vấn đề y tế công cộng đe dọa đến sự sống còn và phát triển của trẻ em.
Mulvaney (2012) [55] cũng như số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) (2008) [119]; (2010) [118]; TNTT là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em từ 5 - 19 tuổi. Hơn nữa, chúng là một trong những nguyên nhân chính gây tình trạng sức khỏe kém và khuyết tật ở trẻ. Chính vì vậy việc nghiên cứu về KN phòng tránh TNTT cho trẻ là điều cần thiết để từ đó chúng ta có những đánh giá chỉ rõ những yếu tố nguy cơ có liên quan đến TNTT, cũng như các chiến lược, kế hoạch hành động, giải pháp phòng ngừa TNTT ở trẻ. Các nghiên cứu xem xét KN phòng tránh TNTT dưới góc độ là một trong những KNS quan trọng của trẻ em trước hết được thể hiện ở một số tài liệu của UNESCO, WHO, hay UNICEF.
Theo UNESCO, KNS được chia thành 2 nhóm: Nhóm KN chung và nhóm KN chuyên biệt, trong đó, ở nhóm KN chuyên biệt, tài liệu có đề cập các KN liên quan đến sức khỏe và dinh dưỡng, KN ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro. UNICEF khi tiến hành phân loại các nhóm KNS cơ bản ở trẻ em đã xác định: KN bảo vệ bản thân là một trong những KNS cần thiết thuộc nhóm KN tự nhận thức và sống với chính mình [3]. Lê Bích Ngọc (2013) [31] xem KN phòng tránh TNTT là một trong những KNS cần thiết của trẻ mẫu giáo và xếp chúng vào nhóm KN ý thức về bản thân, bao gồm: KN thực hiện quy tắc an toàn thông thường (quy tắc giao thông, quy tắc ăn uống), KN phòng chống các tai nạn thông thường (nhận ra và tránh xa vật nguy hiểm, nơi nguy hiểm, hành động nguy hiểm, gọi người giúp đỡ khi khẩn cấp). Nhìn chung, các tài liệu, nghiên cứu trên đây chủ yếu đều xem KN phòng tránh TNTT là một trong những KNS quan trọng của con người nói chung, trẻ em nói riêng và xếp chúng vào nhóm KN tự nhận thức và quản lý bản thân.
Các tác giả Trương Thị Hoa Bích Dung [12], Lê Bích Ngọc [31] bước đầu đã xác định được một số KN phòng tránh TNTT cụ thể phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ ở hai giai đoạn lứa tuổi MN và tiểu học; trong đó, nếu xem xét kỹ thì có thể nhận thấy, cả hai độ tuổi trên đều cần phải có những KN phòng tránh TNTT cơ bản, như: KN sử dụng các vật dụng thông thường (hay KN nhận ra và tránh xa các vật nguy hiểm), KN ăn uống an toàn, KN tham gia giao thông an toàn, v. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 9 Nghiên cứu về KN phòng tránh TNTT của trẻ em: Raymond G. Miltenberger (2008) [106] chỉ ra rằng KN an toàn, phòng ngừa thương tích của trẻ gồm ba KN: 1) Nhận diện được mối đe dọa và tránh tiếp xúc với nó; 2) Tránh xa mối đe dọa; 3) Thông báo mối đe dọa cho người lớn có trách nhiệm. Đồng quan điểm với Raymond G.
Miltenberger, một số tác giả đã nghiên cứu KN phòng tránh TNTT của trẻ trong phòng ngừa thương tích do súng; KN nhận diện một chai thuốc lạ hoặc nhận diện chất độc khi không có người lớn ở bên cạnh giám sát; KN phòng bắt cóc v.v, có thể kể đến: Gatheridge BJ và cộng sự (2004) [68]; Gross A, Miltenberger R, Knudson P, Bosh A, Brower - Breitwieser C (2007) [69]; Himle M.B và cộng sự (2004) [74]; [75]; Miltenberger R và cộng sự (2004) [98]. Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến KN phòng tránh TNTT của trẻ như: Tabibi Z, Pfeffer K (2003) [114] nghiên cứu mối quan hệ giữa sự chú ý và khả năng xác định các vị trí an toàn hay nguy hiểm khi băng qua đường của trẻ em 6-10 tuổi. Congiu M và cộng sự (2005) [57] nghiên cứu mối quan hệ tuổi và giới tính đối với KN băng qua đường ở trẻ em từ 6 -10 tuổi. Kết quả cho thấy trẻ càng nhỏ càng thiếu các KN cần thiết để đưa ra lựa chọn về khoảng cách an toàn và phù hợp khi tham gia giao thông.
Giới tính không phải là một yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến KN này.D, Craig J, Crane N, McDermott R.J (1998) [91] nghiên cứu phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) và trẻ lớp 3 ( 8- 9 tuổi) trong việc phòng tránh các chất gây độc: thuốc lá, sản phẩm ăn da, nhện độc, nấm độc, v. Nhìn chung các nghiên cứu đều xem KN phòng tránh TNTT là một trong những KNS quan trọng của con người nói chung, trẻ em nói riêng. Các nghiên cứu đã chỉ ra cấu trúc của KN phòng tránh TNTT cũng như một số yếu tố có liên quan đến KN phòng tránh TNTT của trẻ như sự chú ý, khả năng nhận thức, tuổi và giới tính, v. Các tài liệu trên có giá trị định hướng quan trọng cho luận án khi xác định các KN thành phần của KN phòng tránh TNTT cũng như việc xây dựng cơ sở lí luận về các yếu tố ảnh hưởng đến KN phòng tránh TNTT ở trẻ.
Nghiên cứu về giáo dục qua trải nghiệm * Nghiên cứu về trải nghiệm L.Vugotsky [46] cho rằng GD cần phải dựa vào kinh nghiệm sẵn có của trẻ và đón trước được sự phát triển của trẻ để tác động GD phù hợp, có hiệu quả. Ông cũng cho rằng mỗi cá nhân do thực tiễn cuộc sống và tố chất di truyền đều có kinh nghiệm nền tảng khác nhau, nó quy định tương đối tiềm năng của cá nhân. Tiềm năng đó thể hiện ở chỗ hễ có sự hỗ trợ thì làm được, nghĩ được, quyết định được và giải quyết được vấn đề. Nếu không có hỗ trợ thì dù có biết là có vấn đề nhưng chưa đủ năng lực giải TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 10 quyết.
Nhờ sự tương tác, kinh nghiệm thường trực ở cá nhân được chia sẻ, được thử thách, được cải thiện dẫn cá nhân đến trình độ phát triển mới cao hơn. Trình độ này trở thành kinh nghiệm nền tảng trong hiện tại, điểu chỉnh và làm giàu kinh nghiệm trước kia. Học qua làm - học dựa trên kinh nghiệm đã có.Piaget [76] cho rằng sự phát triển của trẻ có được là thông qua hành động. Ông cho rằng khi trẻ tương tác với môi trường thì sẽ thu nhận được kiến thức mới, điều chỉnh và chính xác hóa những kiến thức đã có.Piaget đã đề cao vai trò của hành động, sự hiểu biết của trẻ được xây dựng từng bước thông qua sự tham gia tích cực của trẻ cũng như sự tương tác với các thành viên khác trong môi trường xung quanh trẻ.
Ông cho rằng trí thông minh được hình thành bởi kinh nghiệm và trí thông minh đó không phải là một đặc tính nội bộ bẩm sinh mà là một sản phẩm của sự tương tác giữa con người với môi trường sống của mình. Ông nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm và hoạt động để điều chỉnh hành vi, tuy nhiên không nhấn mạnh vai trò người khác khi hoạt động. Kurt Lewin [90] cho rằng học tập tốt nhất là trong môi trường và đặc biệt là từ những kinh nghiệm cụ thể. Ông quan tâm nhiều đến mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành, “Thực tiễn luôn là lý thuyết tốt”.
Ông cũng cho rằng gia đình và trường học có ảnh hưởng mạnh mẽ trong học tập qua trải nghiệm, kiến thức là cần thiết để thay đổi hành vi nhưng sự thay đổi thực sự đòi hỏi phải có một môi trường để rèn luyện, để trải nghiệm. Ông khẳng định kinh nghiệm chủ quan của cá nhân là thành phần quan trọng của học tập qua trải nghiệm. John Dewey [21] cho rằng trẻ em đến trường để làm việc và sống trong một cộng đồng, được tiếp nhận kinh nghiệm thực tiễn, hình thành và phát triển năng lực của mình để đóng góp cho xã hội. Dewey nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm, ý nghĩa kinh nghiệm cá nhân và mối quan hệ giữa kinh nghiệm cá nhân với hoạt động dạy học.
Ông lập luận rằng chúng ta phải hiểu trải nghiệm xảy ra như thế nào để thiết kế và tổ chức hoạt động GD có thể mang lại lợi ích của các cá nhân trong xã hội hiện tại và tương lai. Như vậy, triết lí của John Dewey cho rằng mỗi trải nghiệm mới được xây dựng dựa trên kinh nghiệm trước đây và trở thành nền tảng tiếp theo tác động, ảnh hưởng đến trải nghiệm sắp tới trong tương lai. Đó là một chuỗi các trải nghiệm kế tiếp nhau, những hoạt động thực tiễn mà trẻ đã trải qua để hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức, các giá trị cũng như các kiến thức hoặc hành vi cần thiết cho đứa trẻ. Vai trò của các nhà GD là tổ chức trải nghiệm cho đứa trẻ và khai thác các trải nghiệm để thực hiện mục tiêu GD đã đặt ra.
David Kolb [84] cho rằng một phần quan trọng đối với việc hình thành bất kì một giá trị nào là sự tương tác giữa kiến thức mới hoặc kinh nghiệm mới với kiến thức và kinh nghiệm đã có. Ông cũng cho rằng học tập là quá trình mà trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 11 Như vậy các tác giả đều đề cao vai trò của kinh nghiệm trong trải nghiệm, mối quan hệ giữa kiến thức, KN và kinh nghiệm trong GD, đều xem con người là cái được hình thành dưới sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội trong những tình huống cụ thể. Deway đề ra khẩu hiệu “GD bằng việc làm”, còn Vugotsky thì GD bằng hoạt động.
Ông yêu cầu cần phải cho trẻ tham gia vào các hình thức hoạt động đa dạng của cuộc sống. * Các nghiên cứu về GD qua trải nghiệm Giáo dục (GD) theo phương thức trải nghiệm là sự hiện thực hóa các tư tưởng của chủ nghĩa thực dụng. Kế thừa và phát triển tư tưởng này, ngày nay GD qua trải nghiệm là một lí thuyết được nhấn mạnh của GD hiện đại, nổi bật trong thế kỷ 20.