Nghiên cứu phát triển năng lực viết cho học sinh lớp 2 CT GDPT 2018

Tổng hợp luận văn, báo cáo nghiên cứu chi tiết về các chủ đề học thuật. Cung cấp kiến thức chuyên sâu và dữ liệu phân tích giá trị cao.

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
87
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển năng lực viết học sinh lớp 2

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đặt mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân cho học sinh tiểu học. Trong đó, kỹ năng viết đóng vai trò nền tảng quan trọng. Năng lực viết học sinh lớp 2 bao gồm khả năng tạo lập câu, đoạn văn đơn giản. Học sinh biết diễn đạt ý tưởng, cảm xúc bằng ngôn ngữ viết. Chương trình nhấn mạnh quan điểm giao tiếp và tích hợp. Việc dạy chữ gắn liền với dạy người. Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 được xây dựng theo các chủ điểm gần gũi. Các chủ điểm xoay quanh bản thân, nhà trường, quê hương và thiên nhiên. Phương pháp thực hành được ưu tiên hàng đầu. Học sinh học viết thông qua các hoạt động cụ thể, sinh động. Giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ. Mục tiêu cuối cùng là hình thành thói quen viết tốt, phục vụ học tập và giao tiếp.

1.1. Mục tiêu chương trình môn Tiếng Việt lớp 2

Chương trình môn Tiếng Việt lớp 2 theo CT GDPT 2018 hướng tới hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh. Bốn kỹ năng đọc, viết, nói, nghe được rèn luyện đồng bộ. Kỹ năng viết tập trung vào tạo lập câu và đoạn văn đơn giản. Học sinh biết viết đúng chính tả, đặt câu có nội dung. Các em học cách kể lại sự việc đã trải qua. Chương trình còn cung cấp kiến thức sơ giản về tiếng Việt, tự nhiên và xã hội. Tình yêu tiếng Việt được bồi dưỡng qua mỗi bài học. Thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt được hình thành dần.

1.2. Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 2 trong học viết

Học sinh lớp 2处于 giai đoạn đầu của học tập nông. Tư duy các em chủ yếu là trực quan, cụ thể. Khả năng trừu tượng còn hạn chế. Các em ham thích trò chơi, hoạt động vui nhộn. Sự tập trung chú ý ngắn, dễ phân tán. Học sinh lớp 2 đã biết đọc, viết cơ bản từ lớp 1. Tuy nhiên, vốn từ còn ít ỏi. Kỹ năng tổ chức câu, đoạn văn chưa phát triển. Các em cần nhiều hoạt động trải nghiệm thực tế. Sự động viên, khích lệ từ giáo viên rất quan trọng. Đặc điểm tâm lý này đòi hỏi phương pháp dạy phù hợp, sinh động và hấp dẫn.

II. Phân tích khó khăn trong dạy viết lớp 2 hiện nay

Thực tế dạy viết văn lớp 2 còn nhiều tồn tại. Phương pháp truyền thụ một chiều vẫn phổ biến. Học sinh bị động tiếp thu kiến thức. Các em chưa phát huy được năng lực bản thân. Tư duy sáng tạo bị mờ nhạt. Niềm đam mê với môn học giảm dần. Giáo viên gặp khó khăn trong tổ chức lớp học. Thiết kế giờ dạy tạo lập văn bản còn lúng túng. Nhiều giáo viên chưa tạo được hứng thú học tập. Nhu cầu giao tiếp chưa được khơi gợi đúng cách. Hiện tượng sao chép bài văn mẫu khá phổ biến. Học sinh chỉ hoàn thành yêu cầu mà chưa hiểu ý nghĩa. Việc đánh giá bài viết thiếu khách quan. Định tính và cảm nhận riêng chi phối kết quả. Những khó khăn này ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học viết.

2.1. Hạn chế về phương pháp giảng dạy hiện tại

Phương pháp dạy viết truyền thống tồn tại nhiều bất cập. Giáo viên chủ yếu đọc mẫu, học sinh chép theo. Cách tiếp cận này không phát huy tính chủ động. Học sinh thiếu cơ hội sáng tạo nội dung riêng. Giờ học viết thường khô khan, thiếu hấp dẫn. Giáo viên chưa khai thác tình huống giao tiếp thực tế. Hoạt động viết thiếu gắn liền với đời sống. Thời gian cho thực hành sáng tạo chưa đủ. Nhiều tiết học chỉ tập trung sửa lỗi kỹ thuật. Ít có hoạt động chia sẻ, thảo luận bài viết. Phương pháp đánh giá còn máy móc, thiếu tính xây dựng. Hệ quả là chất lượng viết của học sinh không cải thiện đáng kể.

2.2. Thách thức về tâm lý và hứng thú học sinh

Học sinh lớp 2 thường sợ viết văn. Các em cảm thấy khó khăn khi diễn đạt ý bằng câu chữ. Vốn từ nghèo nàn khiến bài viết sơ sài. Nhiều em không biết viết gì khi nhận đề bài. Sự nhàm chán xuất hiện khi viết theo khuôn mẫu sẵn. Các em mất dần hứng thú với hoạt động viết. Tâm lý sợ sai, sợ điểm kém cũng là rào cản. Học sinh không dám thể hiện ý tưởng riêng. Việc sao chép bài văn mẫu trở thành thói quen. Các em thiếu động lực sáng tạo nội dung gốc. Không khí lớp học khi viết thường im lặng, căng thẳng. Giáo viên cần thay đổi cách tiếp cận để khơi gợi niềm yêu thích viết cho học sinh.

III. Giải pháp phát triển năng lực viết cho học sinh lớp 2

Phát triển năng lực viết đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Giáo viên cần áp dụng phương pháp dạy học tích cực. Hoạt động thực hành sáng tạo phải được ưu tiên. Các trò chơi ngôn ngữ giúp học sinh hứng thú hơn. Phương pháp viết sáng tạo với câu chuyện rỗng rất hiệu quả. Học sinh điền từ, cụm từ để tạo câu chuyện hoàn chỉnh. Cách làm này rèn luyện kỹ năng liên kết câu tự nhiên. Giáo viên tổ chức hoạt động nhóm để tăng tương tác. Học sinh chia sẻ, trao đổi bài viết với nhau. Sự phản hồi từ bạn bè giúp cải thiện bài viết. Sách giáo khoa Chân trời sáng tạo cung cấp nhiều hoạt động hay. Các chủ điểm được thiết kế theo chuỗi hoạt động logic. Giáo viên cần tận dụng tối đa tài liệu dạy học hiện đại.

3.1. Ứng dụng trò chơi sáng tạo trong dạy viết

Trò chơi sáng tạo là công cụ hiệu quả dạy viết lớp 2. Phương pháp câu chuyện rỗng được áp dụng thành công. Giáo viên chuẩn bị văn bản có chỗ trống để học sinh điền vào. Cách chơi đơn giản, dễ hiểu với học sinh nhỏ tuổi. Các em có thể làm việc cá nhân hoặc nhóm nhỏ. Hoạt động này rèn luyện kỹ năng tạo lập câu, đoạn văn. Học sinh phát triển vốn từ và khả năng liên kết ý. Giáo viên khuyến khích sáng tạo nội dung đa dạng. Sau khi viết, học sinh trưng bày và bình chọn bài hay. Không khí lớp học trở nên vui nhộn, hứng khởi. Các em học viết một cách tự nhiên, không áp lực. Phương pháp này phù hợp đặc điểm tâm lý lứa tuổi.

3.2. Tổ chức hoạt động giao tiếp và chia sẻ bài viết

Hoạt động giao tiếp giúp học sinh hiểu mục đích của viết. Giáo viên tạo tình huống giao tiếp thực tế trước khi viết. Học sinh viết để phục vụ nhu cầu giao tiếp cụ thể. Các em kể chuyện cho bạn nghe, viết thư cho người thân. Việc chia sẻ bài viết được tổ chức thường xuyên. Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét bài của bạn. Các em học cách phản hồi tích cực, xây dựng. Hoạt động nhóm giúp học sinh trao đổi ý tưởng phong phú. Không khí lớp học cởi mở, khuyến khích sáng tạo. Giáo viên tổ chức trưng bày bài viết đẹp, ấn tượng. Sự công nhận, động viên tạo động lực cho học sinh. Các em dần hình thành thói quen viết tốt, viết hay.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng thực tiễn dạy viết lớp 2

Phát triển năng lực viết học sinh lớp 2 là nhiệm vụ quan trọng. Chương trình GDPT 2018 tạo nền tảng vững chắc cho đổi mới. Phương pháp dạy học tích cực cần được triển khai rộng rãi. Giáo viên đóng vai trò then chốt trong quá trình này. Sự sáng tạo trong thiết kế bài học rất cần thiết. Hoạt động thực hành, trải nghiệm giúp học sinh tiến bộ rõ rệt. Trò chơi ngôn ngữ tạo hứng thú cho các em nhỏ. Việc đánh giá cần khách quan, toàn diện hơn. Tiêu chí đánh giá rõ ràng giúp giáo viên và học sinh hiểu mục tiêu. Phụ huynh cũng cần đồng hành, hỗ trợ con tại nhà. Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình rất quan trọng. Hướng tới tương lai, năng lực viết sẽ là hành trang quý giá cho mỗi học sinh.

4.1. Vai trò của giáo viên trong đổi mới dạy viết

Giáo viên là nhân tố quyết định thành công dạy viết lớp 2. Người thầy cần nắm vững chương trình GDPT 2018. Hiểu rõ mục tiêu từng bài học, từng chủ điểm. Giáo viên thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm học sinh. Tạo môi trường học tập an toàn, khuyến khích sáng tạo. Giáo viên tổ chức các trò chơi, hoạt động nhóm hiệu quả. Hướng dẫn học sinh cách tạo lập câu, đoạn văn. Khơi gợi ý tưởng thông qua tình huống giao tiếp thực tế. Đánh giá bài viết bằng tiêu chí rõ ràng, công bằng. Động viên, khích lệ từng tiến bộ nhỏ của học sinh. Giáo viên không ngừng học hỏi, trao đổi kinh nghiệm đồng nghiệp. Sự tận tâm, sáng tạo của giáo viên truyền cảm hứng cho học sinh.

4.2. Liên kết với các môn học và hoạt động giáo dục

Viết không chỉ thuộc phạm vi môn Tiếng Việt. Kỹ năng viết liên kết với nhiều môn học khác. Sách giáo khoa Chân trời sáng tạo tích hợp đa môn. Nội dung bài viết gắn với Tự nhiên và Xã hội, Đạo đức. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp học sinh viết thực tế hơn. Mĩ thuật, Âm nhạc hỗ trợ phát triển cảm xúc cho bài viết. Giáo viên khai thác liên môn để làm phong phú nội dung. Học sinh viết về trải nghiệm thực tế trong đời sống. Bài viết kể chuyện, tả cảnh, tả người liên kết nhiều lĩnh vực. Cách tiếp cận tích hợp giúp học sinh hiểu sâu hơn. Năng lực viết phát triển toàn diện, tự nhiên. Học sinh áp dụng kỹ năng viết vào học tập và cuộc sống.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Luan van lan anh 18 7 2022 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, triển khai, kết thúc; các câu đoạn có mối liên kết với nhau” [20, tr. Tóm lại, các tài liệu có khác nhau về cách phát biểu nhưng nhìn chung, các tài liệu đều thống nhất rằng: để tạo lập VB, HS cần đạt được mục đích và nội dung viết, thực hiện các thao tác của tiến trình viết; trình bày và kiến thức tiếng Việt. Dựa vào cơ sở lí luận và những quan điểm về việc tạo lập VB, Lê Ngọc Tường Khanh (2019) đã đề xuất cấu trúc NL viết dành cho HSTH gồm 4 thành tố: xác định nhiệm vụ viết; thực hiện các HĐ tạo bài viết; tổ chức bài viết; xuất bản, công bố và nhận xét, đánh giá bài viết. Cấu trúc năng lực viết của học sinh tiểu học Cấu trúc NL viết Nguồn: Lê Ngọc Tường Khanh (2019), Dạy học viết văn bản cho học sinh tiểu học theo định hướng phát triển năng lực 1.

Sự khác biệt giữa dạy học viết văn bản theo định hướng phát triển năng lực và cách dạy “truyền thống” Về cơ bản, 03 giai đoạn của tiến trình viết không có nhiều khác biệt so với các kĩ năng làm văn theo cấu trúc HĐ lời nói (bao gồm: định hướng, lập CT nội dung biểu đạt, hiện thực hóa CT, kiểm tra) mà Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2006, phần Tiếng Việt, thực hiện. Tuy nhiên, giữa hai CT có sự khác biệt nhất định. Sự khác biệt lớn nhất giữa dạy học viết VB theo định hướng ‘ PT NL và cách dạy truyền thống là quan niệm về VB mà HS tạo lập. Nếu cách dạy “truyền thống” – theo cách tiếp cận nội dung- xem VB HS tạo lập là một sản phẩm thì cách dạy theo định hướng PT NL xem là một tiến trình và tiến trình này dẫn đến một sản phẩm với những yêu cầu phù hợp đặc điểm lứa tuổi, cấp học của HS.

Sự khác biệt này đưa đến việc dạy viết VB theo định hướng PT NL có những điểm được nhấn mạnh hơn so với cách dạy “truyền thống”: ’ Thứ nhất là các bước của tiến trình tạo lập VB được thực hiện từ những lớp đầu cấp học và được chú trọng để phát triển cho những lớp tiếp theo. Cụ thể hơn, những kĩ năng làm văn bộ phận sẽ được hình thành và rèn luyện trong suốt bậc học (trừ lớp 1), ví dụ: kĩ năng viết nhanh những ý tưởng, tình cảm, xúc cảm đang diễn ra; kĩ năng lọc ý, thiết lập dàn ý trước khi viết; thói quen đọc lại bài viết. HS cũng được dần dần hình thành ý thức và thái độ trân trọng bài viết của bản thân. Thứ hai là dạy học tích hợp được đẩy mạnh hơn so với cách dạy “truyền ‘ thống”: tích hợp dạy viết trong khi dạy đọc, dạy nói và nghe; tích hợp với các môn học và các HĐ giáo dục.

Phân tích điển hình trong học đọc, HS không chỉ tìm hiểu về nội dung mà còn tìm hiểu về hình thức của VB. Thông qua đọc hiểu hình thức VB, GV có thể cho HS tiếp cận đến lí thuyết kiểu loại. HS hiểu tác giả VB đã sử dụng hình thức gì để chuyển tải nội dung muốn đề cập và ngược lại (một nội dung có thể được thể hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau). Xét theo quan điểm giao tiếp, khi tạo lập VB, người nói/người viết lựa chọn hình thức thể hiện nội dung, phù hợp đối tượng giao tiếp nhằm đạt mục tiêu giao tiếp.

Do đó, nếu tri nhận được mối liên quan giữa nội dung và hình thức thì HS sẽ rõ hơn về cơ chế sản sinh một VB. Trong quá trình dạy học, tùy từng thời điểm, nội dung VB, đối tượng HS, GV tùy chọn giúp HS nhận biết về hình thức (kiểu loại) VB trước hoặc sau hiểu nội dung. ’ Thứ ba là những yếu tố liên quan đến tâm lí HS trong quá trình tạo lập ‘ VB sẽ được quan tâm và khai thác. HS được GV gợi động cơ, hứng thú để có tâm thế, hào hứng với nội dung, mục đích viết.

HS cũng được GV tạo nhu cầu viết để bày tỏ hiểu biết, suy nghĩ, tình cảm của bản thân. HS được khơi gợi những tình cảm, xúc cảm về nội dung, đối tượng viết và thể hiện điều đó trong bài viết. ’ Thứ tư là đối tượng bài viết sẽ được mở rộng hơn so với cách dạy “truyền thống”. Nếu trước đây, khi viết văn, HS thường mặc định người đọc sẽ là GV thì với cách dạy theo định hướng PT NL, người đọc có thể là bạn bè, là một người thân, một người ngoài xã hội (ví dụ viết thư gửi chú bộ đội ngoài đảo xa).

Thứ năm là đề bài/ bài tập viết VB có nội dung được mở rộng hơn và mang tính cá thể hóa để HS có cơ hội bộc lộ bản thân nhiều hơn. ‘Thứ sáu là kĩ năng tự nhận xét, đánh giá được chú trọng hơn cách dạy “truyền thống”. HS được rèn luyện thói quen đọc lại bài viết và sửa chữa chúng; thói quen đọc bài của bạn và cho ý kiến. Bên cạnh đó, HS cũng được hướng dẫn và thực hiện nhận xét, đánh giá theo những tiêu chí nhất định nhằm giúp HS có ý thức nhận xét, đánh giá “chuyên nghiệp”, không cảm tính.

’ ‘Thứ bảy là tự tin trưng bày, chia sẻ bài viết cũng là một trong những kĩ năng và thái độ HS được rèn luyện. Bên cạnh đó, HS được giáo dục tôn trọng sự khác biệt. HS biết nhận xét, đánh giá bài viết của bạn với một thái độ đúng (cởi mở, chân thành); tương tự như vậy khi nhận sự nhận xét, đánh giá của bạn về bài văn của bản thân. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 2 Trẻ em ở lứa tuổi HSTH thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo.

Về điều này, N. Leytex đã khắc họa: “Tuổi tiểu học là thời kì của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kì mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế. Chức năng trên được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này – sự tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín với các em (đặc biệt là thầy, cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi và ngây thơ đối với các đối tượng mà các em được tiếp xúc”. HSTH là nhân vật trung tâm.

Ở đấy, các em đang từng ngày, từng giờ tự hình thành cho mình những năng lực ở trình độ sơ đẳng nhưng rất cơ bản như năng lực làm việc trí óc, năng lực tính toán, năng lựa sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn,… 1. Về tri giác Ở lớp 2, tri giác của các em còn mang tính chất đại thể và tính không chủ định. HS tri giác những yếu tố mang lại xúc cảm như màu sắc, sự chuyển động hơn là dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng. Những lớp đầu cấp, tri giác cần gắn với hành động cụ thể như cầm, nắm, nghe,.

Càng về sau, HS biết tri giác các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, nhận biết mối liên hệ giữa đối tượng và thuộc tính của chúng. Về chú ý Ở lớp 2 các em ‘phát triển từ chú ý không chủ định đến chú ý có chủ định, có mục đích và tập trung vào các dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng. Những sự vật màu sắc, mới mẻ, mang tính bất ngờ,. sẽ thu hút sự chú ý của HS ngay từ những phút đầu tiên.

Tuy nhiên, sự phân phối và khối lượng chú ý còn hạn chế. HS không thể chú ý quá lâu và cũng không thể chú ý nhiều sự vật, hiện tượng cùng lúc. Điều cần lưu tâm là chú ý gắn với việc hình thành động cơ- nhận thức của HS. Về trí nhớ ‘Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm phương thế, nên ở lớp 2, trí nhớ mang tính chất hình ảnh, cụ thể và trực tiếp nhưng về sau trí nhớ dựa trên ngôn ngữ sẽ xuất hiện và hoạt động hiệu quả hơn.

Tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong ghi nhớ lẫn tái hiện và khả năng ghi nhớ máy móc của các em là rất tốt. Tình cảm, xúc cảm giữ vai trò quan trọng trong việc ghi nhớ và lưu giữ thông tin. Sự tái hiện những gì đã ghi nhớ là một việc khó với HS TH. Bên cạnh đó, HS cũng chưa có phương pháp hay thủ thuật để ghi nhớ.

Về tư duy Trong tư duy của HS lớp 2 vẫn gắn nhận thức với hành động nên tư duy trực quan hành động vẫn phát triển. Mặc dù, ở các em đang có sự chuyển từ tư duy hành động sang tư duy trực quan và phát triển dần tư duy trừu tượng. Giai đoạn đầu, các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa,. vẫn còn sơ khai, đượm màu sắc của xúc cảm nhưng dần dần sẽ được hình thành và phát triển trong quá trình học tập.

Về tưởng tượng Các em không phát triển từ tưởng tượng dựa trên đối tượng cụ thể đến tưởng tượng trên cơ sở của ngôn từ. Thời gian đầu, tưởng tượng của HS còn tản mạn, về sau chúng thống nhất và có logic hơn. Các em đã có thể kể một câu chuyện dựa trên trí tưởng tượng của mình. Đó không phải là nói dối như người lớn vẫn nhầm tưởng, mà đó là biểu hiện của sự quyện chặt giữa tưởng tượng phóng khoáng và hiện thực.

Về ngôn ngữ Đây là giai đoạn phát triển mạnh sự hiểu biết về ngôn ngữ. HS biết đến cấu tạo của các đơn vị ngôn ngữ cũng như ý nghĩa của chúng. Các kĩ năng ngôn ngữ cũng hình thành và phát triển, tuy nhiên kĩ năng nói sẽ phát triển nhiều và mạnh hơn kĩ năng viết. HS có thể gặp khó khăn với các từ ngữ mang ý nghĩa trừu tượng, các câu ngữ pháp phức tạp hay những nội dung nói/ viết mà bản thân chưa từng trải nghiệm.

Cơ sở thực tiễn 1. Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 1. Nội dung dạy học viết văn bản cho HS tiểu học trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 Trong CTGDPT môn Ngữ văn 2018, yêu cầu cần đạt đối với kĩ năng viết, “(1) Kĩ thuật viết: gồm các yêu cầu về tư thế viết, kĩ năng viết chữ và chính tả; (2) Viết câu, đoạn, VB: gồm các yêu cầu về quy trình tạo lập VB và yêu cầu thực hành viết theo đặc điểm của các kiểu văn bản” [5, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ