Chương 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU 1. Tình hình phát hiện và nghiên cứu gốm hoa nâu ở trong và ngoài nước. Những phát hiện và nghiên cứu trước năm 1975. Trước năm 1975, các phát hiện và nghiên cứu về gốm hoa nâu chưa nhiều.
Năm 1951, trong cuốn “Arts et Style de la Chine” (Nghệ thuật và phong cách của Trung Quốc), tác giả người Pháp Madelaine Paul David đã nhắc đến ở Thanh Hoá có loại gốm trang trí khắc vạch, vẽ nâu dưới lớp men vàng ngà, so sánh loại gốm này thấy giống với đồ gốm của lò gốm Sử Châu ở Trung Quốc có từ thời Đường [102: 13]. Như vậy, trong cuốn sách này tác giả mới chỉ nhắc đến loại gốm hoa nâu chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể. Mãi đến thập niên 70 của thế kỷ XX, gốm hoa nâu mới thực sự được biết đến qua các bài báo, tạp chí của nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật như: 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Phi Hoanh, Nguyễn Bá Vân, Trần Khánh Chương, Nguyễn Văn Y. Các nhà nghiên cứu này đã tập trung sự chú ý, nghiên cứu về vẻ đẹp nghệ thuật của gốm hoa nâu.
Năm 1970, trong cuốn “Lược sử mỹ thuật Việt Nam”, tác giả Nguyễn Phi Hoanh đã giới thiệu về những thành tựu đạt được dưới triều đại Lý-Trần- Hồ, đó là các thành tựu về kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ và đồ gốm. Trong đó, tác giả cũng đã nhắc đến chiếc thạp gốm sành, có trang trí hình hai võ sĩ, màu nâu, được tìm thấy ở Thanh Hoá và một chiếc chum đào được ở Tức Mặc (Nam Định) [33: 51-81]. Đây được coi như mốc mở đầu cho lịch sử nghiên cứu về gốm hoa nâu. Năm 1971, trên Tạp chí Nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Y có bài viết: “Gốm cổ hoa nâu Việt Nam”, trong đó ông chia gốm hoa nâu thành bốn loại: gốm đàn hoa nâu; gốm sành trắng hoa nâu; gốm sứ trắng hoa nâu và gốm đất nung hoa nâu.
Cả bốn loại này đều có chất liệu và kỹ thuật khác nhau, với những loại hình hoa văn trang trí phong phú và đa dạng như hoa lá, chim, cá, thú, người [89: 29-38]. Năm 1972, Nguyễn Văn Y lại một lần nữa khẳng định vẻ đẹp nghệ thuật của gốm hoa nâu nói riêng, gốm thời Trần nói chung trong bài viết: “Gốm thời Trần” đăng trên Tạp chí Khảo cổ học. Đồng thời, tác giả cũng cho rằng, nghệ thuật gốm hoa nâu phát triển đạt đỉnh cao vào khoảng giữa hai thế kỷ XII-XIII [90: 63-68]. Tháng 5 năm 1972, tại cánh đồng Cửa Triều (Nam Định), các nhà KCH đã phát hiện một chiếc thạp gốm hoa nâu có men trắng ngà, trang trí hoa sen cách điệu [Dẫn lại 42].
Cũng trong năm này, tại Kiếp Bạc (Chí Linh, Hải Dương), BTLSVN, HN cũng phát hiện được 1 mảnh thân gốm hoa nâu (A. 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1975, trong giếng chùa Dân Chủ, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, người dân địa phương đã tìm thấy một mô hình tháp gốm hoa nâu, hiện chỉ còn chín tầng thân và đế. Trên các tầng trang trí những hoạ tiết rất phong phú như rồng, hoa sen, tượng Kim Cương, tượng Phật, tiên nữ, lá đề. Đây chính là tháp men chùa Chò nổi tiếng hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Vĩnh Phúc [20: 310-311].
Cũng trong năm 1975, tại Nam Định, trong quá trình khai quật KCH ở bốn di tích Lộc Hạ, Lộc Vượng, Mỹ Trung, Mỹ Phúc, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một chiếc thạp gốm hoa nâu có kích thước lớn cùng với nhiều bát đĩa có minh văn “Thiên Trường phủ chế” và nhiều gạch ngói quanh khu di tích Tức Mặc, ngoại thành Nam Định. Tại di tích này, các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy vết tích của lò nung gốm-đây là cơ sở để các nhà khoa học đoán định giả thiết khu vực phủ Thiên Trường là nơi sản xuất gốm hoa nâu cũng như là nơi sản xuất gốm sứ cao cấp phục vụ cho cung đình [83: 11-17]. Nhìn chung, trước năm 1975, các công trình nghiên cứu về gốm hoa nâu đầu tiên thuộc về các nhà nghiên cứu mỹ thuật, hội hoạ. Những bài viết này đã miêu tả được vẻ đẹp của gốm hoa nâu trong từng đồ án hoa văn cũng như bố cục, phong cách nghệ thuật độc đáo và riêng biệt của nó.
Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu mỹ thuật còn những hạn chế nhất định khi chưa đi sâu vào nghiên cứu kỹ thuật chế tạo, chất liệu, loại hình, niên đại và nguồn gốc của gốm hoa nâu. Các công trình phát hiện còn lẻ tẻ, ngẫu nhiên, không xuất phát từ khai quật khảo cổ học nên đã không biết được diễn biến các di vật trong tầng văn hoá khiến cho nhiều đồ gốm bị xác định sai niên đại hoặc chỉ thấy được sự tồn tại của gốm hoa nâu ở thời Lý-Trần chứ chưa thấy sự tồn tại của nó ở thời Lê Sơ. Những phát hiện và nghiên cứu từ năm 1975 đến năm 2007. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau năm 1975, với sự tham gia mạnh mẽ và có hiệu quả của các nhà KCH, đã khiến cho các phát hiện về gốm hoa nâu ở trong lòng đất ngày càng nhiều hơn.
Gốm hoa nâu được tìm thấy trong các cuộc khai quật KCH, do phát hiện tình cờ, với nhiều loại hình và hoa văn đa dạng, thu hút sự nghiên cứu của các nhà khoa học. Năm 1976, trong quá trình điều tra KCH đã tìm thấy một chiếc bình gốm hoa nâu ở Nghĩa Lộ, Yên Bái [66:326]. Năm 1978, ở xã Đa Tốn, ngoại thành Hà Nội, tại vườn nhà ông Nguyễn Văn Huyến (thôn Đào Xuyên) đã phát hiện chậu gốm hoa nâu và đĩa gốm hoa lam có niên đại thế kỷ XIV-XV [16:343-346]. Trong thời gian này, BTLSVN, HN đã khai quật các di tích ở Hà Nội như Quần Ngựa, Đại Yên.
cũng thu được một số mảnh gốm hoa nâu có niên đại thời Lý (A. Năm 1979, VKCH tiến hành khai quật di tích Tam Đường, huyện Hưng Hà, Thái Bình, đã thu được nhiều di vật có giá trị, trong đó có một chậu gốm, một chiếc thạp gốm hoa nâu niên đại thời Trần, trang trí hoa văn độc đáo [69: 218-221]. Năm 1983, VKCH tiếp tục khai quật các ngôi mộ Mường ở xã Dũng Phong, huyện Kim Truy, Hoà Bình, đã phát hiện được nhiều thạp, chậu gốm hoa nâu trang trí hoa lá, có niên đại thế kỷ XIII-XIV [49, 70, 76]. Gốm hoa nâu tìm thấy khá nhiều trong các ngôi mộ Mường cổ ở Nhuận Trạch (huyện Lương Sơn), ở Đống Thếch (huyện Kim Bôi).
tỉnh Hòa Bình, Quốc Oai (Hà Tây) vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Hầu hết các sưu tập gốm hoa nâu của tư nhân hiện nay đều có nguồn gốc từ các ngôi mộ Mường cổ thuộc các tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình. Tiếp đó, tháng 10 năm 1984, Sở Văn hoá-Thông tin Thanh Hoá đã khai 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quật một ngôi mộ quan tài hình thuyền dưới chân núi Văn Trinh (xã Quảng Hợp, huyện Quảng Xương, Thanh Hoá). Trong mộ có một chồng dính bát đĩa, dưới đáy bôi màu sôcôla, một đĩa, hai bát men ngọc và hai chiếc thạp gốm hoa nâu trang trí hoa cúc dây cách điệu và hình hai con chim, có niên đại thế kỷ XIII-XIV [60: 182].
Năm 1987, ở xã Châu Thái, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An, một người dân phát hiện được chiếc thạp gốm hoa nâu có niên đại thế kỷ XIII-XIV [41: 226]. Cũng năm 1987, tại xã Hiệp An, huyện Kinh Môn, Hải Dương, VKCH cũng tìm thấy một chiếc chum gốm hoa nâu, bên trong chứa nhiều đồ gốm sứ thời Nguyên (1279-1368) (Trung Quốc) [dẫn lại 64]. Năm 1990, VKCH đã điều tra thám sát bến bãi Đền Huyện (Hà Tĩnh) đã thu được nhiều mảnh gốm hoa nâu thế kỷ XIII-XIV (A. Năm 1994, trong ngôi mộ Mường ở xã Hùng Sơn, huyện Lương Sơn, Hoà Bình, các nhà KCH đã phát hiện đồ tuỳ táng hoàn toàn là sứ Tống men ngọc, men trắng và gốm hoa nâu [49: 94].
Năm 1995, nhân dân xã Yên Hoa, huyện Na Hang, Tuyên Quang đã tìm thấy một chiếc ấm hoa nâu đầu người mình chim thời Lý [27: 441-442; 51: 227-228]. Năm 1996, VKCH tiến hành khai quật di chỉ Xóm Hống, Hải Dương, trong các lớp 1 đến lớp 6 đều thấy các mảnh gốm hoa nâu có niên đại thế kỷ XIII-XIV [Tư liệu VKCH]. Năm 1997, hai chiếc thạp gốm hoa nâu thời Trần đã được người dân tìm thấy ở xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn, Nghệ An [38: 232-233]. Trong thời gian này, VKCH đã khai quật di tích cố đô Hoa Lư, Ninh Bình thu được nhiều vật liệu kiến trúc, gốm men và một số mảnh gốm hoa nâu thế kỷ XIII-XIV (A.
27 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1998, VKCH khai quật địa điểm Hậu Lâu, Ba Đình, Hà Nội, trong lớp 8 của hố 1 cũng đã thu được một mảnh thân gốm hoa nâu thời Trần (A. Trước sự phát hiện ngày một nhiều của đồ gốm hoa nâu, cũng vào thời điểm này, các nhà nghiên cứu mỹ thuật cũng đẩy mạnh việc nghiên cứu gốm hoa nâu với nhiều khía cạnh khác nhau. Trong khoảng 1976-1982, họa sỹ Trần Khánh Chương đã hệ thống một số loại hình và hoa văn gốm hoa nâu trong các bài viết của ông như “Những yếu tố tạo nên vẻ đẹp của đồ gốm gia dụng thời Lý-Trần”, “Nghệ thuật gốm Việt Nam”, hay “Nghệ thuật gốm hoa nâu Việt Nam”. Trong những bài viết này, ông đã đưa ra định nghĩa về gốm hoa nâu: “Gốm hoa nâu là loại sản phẩm tráng men trắng ngà và trang trí chủ yếu bằng màu nâu”.
Tác giả chỉ ra được sự phát triển của gốm hoa nâu so với gốm thời tiền-sơ sử, sự phát triển qua từng giai đoạn cũng như các đặc điểm nghệ thuật về hình dáng, hoa văn trang trí, thủ pháp trang trí và nguồn gốc của nó [21, 22, 23]. Nhìn chung, tác giả đã có một cái nhìn sâu sắc khi phân tích được những vẻ đẹp riêng biệt của gốm hoa nâu so với các loại gốm men khác. Đó là nét đẹp bắt nguồn từ truyền thống trang trí nét chìm trên gốm đất nung, từ sự kế thừa các mô típ có sẵn trong thiên nhiên như cỏ cây, hoa lá, hay sự độc đáo của nghệ thuật trang trí với hoạ tiết được bố cục thành mảng to trên nền thoáng. Tuy nhiên, những bài viết này còn một số hạn chế nhất định như tác giả chưa chỉ ra được niên đại hợp lý và diễn biến của gốm hoa nâu qua từng thời kỳ.
Đến trước năm 2000, gốm hoa nâu được tìm thấy chủ yếu do phát hiện ngẫu nhiên. So với nhiều loại gốm men khác, gốm hoa nâu phát hiện trong các di chỉ KCH còn rất ít.