CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VÁN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu về hình ảnh cơ thể và tụ đánh giá hình ảnh cơ thể Khái niệm về hình ảnh cơ thể (body image) lần đầu tiên được đề cập đến như một hiện tượng tâm lý học quan trọng bởi nhà tâm lý học người Đức Schilder nhắc đến trong cuốn sách chuyên khảo của mình “The Image and Appearance of the Human Body” vào năm 1935. Theo đó Schilder (1999) đã đề cập hình ảnh cơ thể được được hình thành trong tâm trí của chúng ta về kích thước, hình dạng cơ thê cũng như cảm xúc của chính mình đến những đặc điểm này và các bộ phận cơ thể cấu thành. Slade (1994) đã xây dựng một mô hình các yêu tố ảnh hưởng đến biểu hiện và phát triển của hình ảnh cơ thể.
Ông cho răng hình anh cơ thé giống như “một biéu hiện tinh thần lỏng lẻo của của cơ thé” và nó chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: (1) nội tâm hóa về hình ảnh cơ thể ly tưởng; (2) các chuẩn mực văn hóa xã hội; (3) thái độ của cá nhân đối với trọng lượng cơ thể và hình dáng bên ngoài; (4) sự biến đổi nhận thức và cảm xúc cá nhân, tâm lý mỗi cá nhân, sự biến đổi sinh học hay lịch sử của việc thay đồi cân nặng. Trong nhiều năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn đến van đề này, thực hiện nghiên cứu trên nhiều khía cạnh và đối tượng khác nhau. Cùng đồng quan điểm với Slade, Thompson và cộng sự (1999) cũng đã chỉ ra một số những nguy cơ ảnh hưởng đến hình ảnh cơ thé trong đó bao gồm: (1) những ảnh hưởng của người khác thông qua những lời trêu chọc nhăm vào ngoại hình; (2) những thay đổi về tâm, sinh lý (dậy thì sớm, lòng tự trọng thấp); (3) mô hình gia đình và bạn bè đồng trang lứa và đặc biệt những thông điệp truyền tải trên truyền thông đại chúng. Bacchini & Magliulo (2003) chỉ ra khái niệm về hình anh cơ thé có thé mang những ý nghĩa khác nhau liên quan đến sức mạnh, khả năng, khuynh hướng và các thuộc tinh cá nhân mà một cá nhân tin rằng mình sở hữu dé phân biệt người đó với người khác.
Tham chiếu thường xuyên là việc làm được thực 10 hiện dựa trên các đặc điểm của bản thân thực hiện thông qua việc tự đánh giá, một trong những van dé liên quan đến mức độ mà niềm tin về bản thân của cá nhân trùng khớp với các đặc điểm thực sự sở hữu. Tylka & Wood-Barcalow (2015) cho rằng hình ảnh cơ thể tích cực (positive body image) là một cau trúc khác biệt so với hình ảnh cơ thé tiêu cực ở nhiều mặt bao gồm đánh giá tích cực hình ảnh cơ thể, chấp nhận, yêu thương cơ thể, khái niệm hóa vẻ đẹp một cách cởi mở rộng rãi, đầu tư thích hợp vào ngoại hình, sự tích cực bên trong được thể hiện ra bên ngoài, nhận thức thông tin từ bên ngoài theo hướng bảo vệ cơ thể. Hình ảnh cơ thể tích cực cũng được tác giả đưa ra nó mang tính toàn diện (trong đó những trải nghiệm tích cực bên trong nhận thức hòa hợp với hành vi bên ngoài); biết chấp nhận hình ảnh cơ thé của người khác và được định hình bởi bản sắc xã hội. Moe (1999) cho rằng hình anh tiêu cực (negative body image) về cơ thé khiến bạn không thé cảm thay hai lòng về cơ thé của mình.
Những cảm giác tiêu cực về cân nặng và ngoại hình có thể đến rồi đi hoặc chúng có thé trở thành mối bận tâm hoàn toàn. Đôi khi chúng ta dễ dàng tập trung vào cân nặng của mình hơn là thừa nhận những vấn đề phức tạp hơn trong cuộc sống. Tự đánh giá đóng một vai trò quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân và có nhiều ảnh hưởng đến hầu hết các khía cạnh đời sống của chúng ta. Đây cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu.
Tự đánh giá hình ảnh cơ thé là một trong những khía cạnh của tự đánh giá bản thân (Bailey, 2003). Sự tự đánh giá cơ thê như một cấu trúc tâm lý được quan tâm nhiều trong các nghiên cứu, trong đó các nhà nghiên cứu sử dụng một số các khái niệm như “lòng tự trọng”, “tự đánh giá hình ảnh cơ thể” và “năng lực nhận thức”. Tự đánh giá hình ảnh cơ thé được định nghĩa là sự “nhận thức chủ quan về tông thé bản thân bao gồm hình ảnh cơ thé va an tượng về tính cách, khả năng của một người,. Theo đó Rosenberg và công sự (1995) đã đưa ra quan điểm về lòng tự trọng đó là lòng tự trọng có liên quan đến những yếu tố của bản thân tự đánh giá 11 hoặc những đánh giá từ người khác dựa trên giá trị bản thân, và phát triển xuyên suốt từ thời ấu thơ đến thanh thiếu niên.
Ông cũng định nghĩa lòng tự trọng là nhìn nhận bản thân một cách tích cực, vô điều kiện mà bản thân độc lập không phụ thuộc vào thành tích hay pham chat. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra có rất nhiều lợi ích khi có cái nhìn tích cực về bản thân. Những người có lòng tự trọng cao cảm thấy hài lòng về bản thân và có khả năng đương dau với những thách thức, phản hồi tiêu cực, tin tưởng được mọi người coi trọng và tôn trọng người khác. Ngược lại những người có lòng tự trọng thấp nhìn thế giới qua lăng kính tiêu cực hơn và việc họ không thích bản thân sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của họ về mọi thứ xung quanh (Heatherton & Wyland, 2003).
Cũng tại nghiên cứu này ông đã phân biệt giữa lòng tự trọng va tự chấp nhận ban thân. Tự chấp nhận bản thân dé cập đến tong thé về những niềm tin nhận thức mà mọi người có về bản thân họ, đó là tất cả những gì được biết về bản thân và bao gồm những thứ như tên, chủng tộc, sở thích, điều không thích, niềm tin, giá trị và mô tả ngoại hình (như chiều cao và cân nặng). Ngược lại, lòng tự trọng là phản ứng cảm xúc mà con người trải nghiệm khi họ suy ngẫm và đánh giá những điều khác nhau về bản thân. Các lý thuyết tiếp cận về tự đánh hình ảnh cơ thẻ: Hướng tiếp cận theo lý thuyết so sánh xã hội Dựa trên lý thuyết so sánh xã hội Festinger (1954) đã chỉ ra rằng con người có động lực dé xác định sự tiến bộ va vị thế của mình trong cuộc sống và kết quả là chúng ta thường tìm kiếm những tiêu chuẩn mà có thé so sánh với ban thân.
Theo quan điểm lý thuyết đưa ra rằng: (1) các cá nhân có động lực đánh giá ý kiến và khả năng của mình; (2) khi không có tiêu chí mang tính chất phi xã hội, các cá nhân tham gia việc so sánh xã hội (tức là họ so sánh ý kiến và điểm yếu của mình với ý kiến và điểm yếu của các cá nhân khác); (3) bất cứ khi nào có thể, chúng ta thực hiện so sánh xã hội với những người tương tự. Lý thuyết này phân biệt 2 loại so sánh xã hội đó là: so sánh xã hội theo chiều hướng đi lên (tích cực) xảy ra khi các cá nhân so sánh bản thân với người mà họ tin là tốt hơn 12 mình; loại thứ 2 là so sánh xã hội theo chiều hướng đi xuống (tiêu cực) xảy ra khi các cá nhân so sánh mình với người mà họ tin là kém hơn mình. Morrison và cộng sự (2004) dựa trên lý thuyết văn hóa xã hội và lý thuyết so sánh xã hội thực hiện nghiên cứu trên 1543 thanh thiếu niên (bao gồm cả nam và nữ) dé giải thích những khác biệt trong việc đánh giá va đầu tư vào hình anh cơ thê. Việc tiếp xúc với các tạp chí và các chương trình truyền hình chứa hình anh cơ thé lý tưởng cũng như tần suất tự so sánh với các mục tiêu phổ quát đã được thực hiện đo lường.
Kết quả đã chỉ ra, cụ thể: mức độ mà nam giới tham gia vào so sánh xã hội có tính phô quát dự đoán tự đánh giá về hình anh cơ thé, sử dụng các biện pháp kiểm soát cân nặng gây bệnh hay sử dụng nội tiết tố dé tăng khối lượng cơ bắp; ở nữ giới, so sánh xã hội mang tính phổ quát dự đoán lòng tự trọng về ngoại hình, sự không hai lòng về cơ thê, số lần ăn kiêng để giảm cân, việc sử dụng các phương pháp kiểm soát cân nặng gây bệnh. Fardouly và cộng sự (2015) đã tiễn hành điều tra thực nghiệm tác động của việc sử dụng Facebook đến tâm trạng và hình ảnh cơ thể của phụ nữ. Khách thé tham gia là 112 nữ giới được chỉ định ngẫu nhiên dành 10p dé đăng nhập tài khoản Facebook, trang web tạp chí hoặc trang web kiểm soát về ngoại hình trước khi hoàn thành các thước đo trạng thái về tâm trạng, sự không hài lòng cơ thể và sự khác biệt về ngoại hình (liên quan đến cân nặng và khuôn mặt, tóc và da), đồng thời những người tham gia cũng hoàn thành thước đo đặc điểm về xu hướng so sánh ngoại hình. Kết quả chỉ ra rằng, những người tham gia dành thời gian trên facebook cho biết họ có tâm trạng tiêu cực hơn những người dành thời gian trên những trang web có kiểm soát.
Thêm vào đó, phụ nữ có xu hướng so sánh ngoại hình cao cho biết có nhiều sự khác biệt liên quan đến khuôn mặt, tóc và da sau khi tiếp xúc với facebook hơn là tiếp xúc với trang web kiểm soát. Hướng tiếp cận theo lý thuyết tự khác biệt bản thân Higgins (1987) đã chỉ ra tiền đề cơ bản của lý thuyết về sự khác biệt về bản thân chính là mối liên hệ giữa các loại niềm tin bản thân hoặc sự thé hiện trạng thái bản thân khác nhau tạo ra những tôn thương về mặt cảm xúc hơn là bản chât cụ thê của con người thực tê hoặc bât kì niêm tin nào của cá nhân khác.