Báo cáo nghiên cứu về năng lực tâm lý và kết quả học tập của sinh viên Đại học Ngân hàng TP.HCM

Báo cáo tổng kết nghiên cứu về mối liên hệ giữa năng lực tâm lý và kết quả học tập từ góc nhìn sinh viên Đại học Ngân hàng TP.HCM.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học

2022

73
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.6. Kết cấu của đề tài

1.7. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Các khái niệm cơ bản

2.1.1. Năng lực tâm lý

2.1.2. Năng lực tâm lý cá nhân và các yếu tố của năng lực tâm lý cá nhân

2.2. Kết quả công việc

2.3. Tổng quan các lý thuyết về các nghiên cứu

2.3.1. Các nghiên cứu nước ngoài

2.3.2. Các nghiên cứu trong nước

2.4. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

2.4.1. Năng lực tâm lý của sinh viên

2.4.2. Sự hài lòng chất lượng đời sống của sinh viên (Quality of life satisfaction - QLS)

2.4.3. Kết quả học tập (Study Performance – SP)

2.4.4. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

2.5. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Xây dựng thang đo

3.2.1. Thang đo năng lực tâm lý

3.2.2. Thang đo kết quả học tập và sự hài lòng đời sống học tập

3.3. Mẫu nghiên cứu và phương pháp xử lý dữ liệu

3.3.1. Mẫu nghiên cứu

3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu

3.3.3. Xử lý và phân tích dữ liệu

3.3.3.1. Làm sạch dữ liệu
3.3.3.2. Đánh giá sơ bộ thang đo
3.3.3.3. Phân tích nhân tố khẳng định bằng CFA và SEM

3.4. Tóm tắt chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

4.2. Đánh giá thang đo

4.2.1. Đánh giá thang đo bằng hệ số độ tin cậy Conbach’s Alpha

4.2.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)

4.3. Đánh giá và kiểm định độ phù hợp của mô hình

4.3.1. Kết quả kiểm định CFA

4.3.2. Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu bằng SEM

4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.5. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Hàm ý quản trị

5.1.1. Nâng cao sự hấp dẫn trong quá trình học tập

5.1.2. Nâng cao sự nỗ lực của sinh viên trong quá học tập

5.1.3. Nâng cao sự tự tin của sinh viên trong quá trình học tập

5.1.4. Nâng cao sự lạc quan của sinh viên trong quá trình học tập

5.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.3. Tóm tắt chương 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu về tâm lý sinh viênkết quả học tập là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, giáo dục đại học cần đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, với gần 45 năm phát triển, đã đóng góp hàng nghìn cử nhân cho xã hội. Nghiên cứu này nhằm khám phá mối quan hệ giữa năng lực tâm lýkết quả học tập, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo. Việc xác định các yếu tố tác động đến kết quả học tập của sinh viên không chỉ giúp cải thiện chất lượng giáo dục mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

II. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định và phân tích các yếu tố năng lực tâm lý ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM. Cụ thể, nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi như: Các yếu tố nào tác động đến kết quả học tập? Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này như thế nào? Nghiên cứu cũng mong muốn đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao kết quả học tập và chất lượng đời sống học tập của sinh viên. Việc xác định rõ ràng các yếu tố này sẽ giúp nhà trường có những chiến lược đào tạo phù hợp hơn.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các yếu tố cấu thành năng lực tâm lý và tác động của chúng đến kết quả học tập. Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp định tính và định lượng, bao gồm việc khảo sát sinh viên thông qua bảng hỏi để thu thập dữ liệu. Phân tích dữ liệu sẽ được thực hiện bằng các chỉ số như Cronbach’s Alpha, EFA, CFA và SEM nhằm kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu và giả thuyết đã đề xuất.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Phương pháp định tính bao gồm việc thiết kế thang đo dựa trên các nghiên cứu trước đó và thảo luận nhóm với sinh viên để điều chỉnh thang đo. Phương pháp định lượng sẽ được thực hiện thông qua bảng hỏi, từ đó thu thập thông tin và phân tích dữ liệu. Việc sử dụng các phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Các công cụ phân tích như CFA và SEM sẽ giúp đánh giá mối quan hệ giữa năng lực tâm lýkết quả học tập, từ đó đưa ra những kết luận có giá trị.

V. Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các yếu tố năng lực tâm lý và mức độ ảnh hưởng của chúng đến kết quả học tập của sinh viên tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp nhà trường cải thiện chất lượng đào tạo mà còn giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến học tập của bản thân. Điều này sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng các chương trình hỗ trợ sinh viên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.

11/01/2025
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học năng lực tâm lý và kết quả học tập nghiên cứu cảm nhận từ góc nhìn của sinh viên trường đại học ngân hàng thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày cơ sơ lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu này. Trong chương 2, tác giả cũng trình bày mô hình nghiên cứu đề xuất và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 2.

Năng lực tâm lý Khi nói đến tâm lý, người ta nghĩ đến ngay lĩnh vực liên quan đến sức khỏe của con người, là lĩnh vực của y học hay môi trường đào tạo chuyên ngành y khoa, mà ít khi nghĩ rằng tâm lý cũng có sự liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực quản lý hay giáo dục các chuyên ngành khác ngoài chuyên ngành đào tao y khoa. Xóa bỏ quan niệm vốn tồn tại lâu đời, cuối thế kỷ XX ngành tâm lý học mở ra theo hướng mới: Tâm lý tích cực. Theo đó, một trong hai lĩnh vực nghiên cứu về tâm lý học tích cực của Martin Seligman, cựu Chủ tịch của Hiệp hội tâm lý Mỹ (American Psychological Association) và lý thuyết hành vi tổ chức tích cực (Positive organizational behavior- POB) đã chỉ ra các thành phần của tâm lý bao gồm: Tự tin, lạc quan, hy vọng, thích nghi, trí tuệ cảm xúc và giữa chúng có sự đo lường khác nhau dẫn đến mức độ ảnh hưởng cũng khác nhau, nếu có sự kết hợp giữa các thành phần này lại được gọi là năng lực tâm lý. Theo Luthans và cộng sự (2007), năng lực tâm lý là trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân và được đặc trưng bởi 4 yếu tố: Sự tự tin, sự lạc quan, sự hy vọng và khả năng tự hồi phục; là một trong những khái niệm hiện đại đã xảy ra trong lĩnh vực quản lý kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực hành vi tổ chức, đôi khi nó được gọi là hành vi tổ chức tích cực (POB).

Nguyễn Việt Ngọc Linh (2012), phát biểu rằng: Tâm lý học tích cực nhằm mục đích quan tâm đến sức khỏe tâm thần của con người bao gồm hai mục tiêu chính: (1) Giúp cho những người bình thường có được một cuộc sống phong phú và có ý nghĩa hơn. (2) Hiểu biết con người một cách đầy đủ hơn về những tiềm năng 12 tồn tại trong con người. Như vậy, năng lực tâm lý được hiểu như các yếu tố tâm lý tích cực của con người, và có tác động trực tiếp đến cuộc sống của con người. Năng lực tâm lý cá nhân và các yếu tố của năng lực tâm lý cá nhân Theo các nghiên cứu trước đây, năng lực tâm lý cá nhân hay đặc điểm cá nhân do bẩm sinh mà có như sự nhạy bén, trí thông minh… Nhưng những đặc điểm bẩm sinh như vậy không nhiều và cũng phải rèn luyện mới phát triển được và phần lớn các đặc điểm cá nhân chủ yếu do học tập, rèn luyện mà có.

Những đặc điểm ấy thường là: Tự tin, quyết đoán, sẵn sàng chịu trách nhiệm, thích ứng với môi trường, khả năng chịu đựng cao, có tinh thần hợp tác… Luthans và Youssef (2004) cho rằng, trong số các nguồn lực khác nhau, năng lực tâm lý đề cập đến một trạng thái tâm lý tích cực, được coi là vốn nhân lực, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau của người lao động, bao gồm: Cảm xúc, động lực, nhận thức và hành vi. Luthans và cộng sự (2008) phát biểu, năng lực tâm lý có vai trò trung gian, là một đầu vào tích cực về mặt chất lượng thông qua việc đạt được kết quả tích cực trong công việc phát triển nguồn nhân lực và quản lý hiệu suất lao động. Nói chung, nhân viên có năng lực tâm lý cao, trạng thái cảm xúc tích cực thì bất cứ khi nào gặp khó khăn trong công việc, họ luôn hy vọng và lạc quan. Như vậy, năng lực tâm lý có thể được xem như một tài nguyên cá nhân quan trọng, giúp con người đạt được các mục tiêu, có thể đối phó tốt hơn với những trở ngại mà họ phải đối mặt và được Luthans và cộng sự (2007) định nghĩa là trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân được đặc trưng bởi các yếu tố như: Sự tự tin: Là sự cố gắng bằng những nỗ lực cần thiết để đạt được sự thành công; Nỗ lực: Là sự kiên định đi tới mục tiêu của mình và khi cần thiết có thể thay đổi cách thức thực hiện và cả hướng đi để đi đến đích; Sự lạc quan: Là tạo ra những suy nghĩ tích cực về sự thành công sẽ đến trong hiện tại và tương lai; và Khả năng tự hồi phục/vượt khó: Là khả năng chống đỡ, giữ vững phục hồi khi gặp phải những trở ngại và khó khăn.

Kết quả công việc Kết quả công việc là việc đạt được những thành tựu nhất định của một cá nhân tại nơi làm việc, có liên quan đến việc lên kế hoạch hướng đến kết quả và chính sách hoạt động của tổ chức (Avey & cộng sự, 2010). Theo Borman và Motowidlo (1993) cho rằng kết quả công việc là các hành vi liên quan đến công việc có thể được đo lường bằng mức độ đóng góp của nhân viên vào việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, đó là quá trình đánh giá chất lượng thực hiện công việc của nhân viên và được xem là một tiêu chí quan trọng đối với thành công của một tổ chức. Các tác giả này phân loại kết quả công việc thành hai khía cạnh: hiệu suất nhiệm vụ và hiệu suất tình huống. Rotundo và Sackett (2002) cho rằng kết quả công việc bao gồm: Số lượng, chất lượng, kỹ năng làm việc và kiến thức chuyên môn của nhân viên.

Kết quả công việc được đánh giá bởi sự tin tưởng, sự hài lòng của bản thân nhân viên về chất lượng công việc thực hiện, sự đánh giá của đồng nghiệp và cấp trên (Nguyen & Nguyen, 2011). Campbell và Pritchard (1976) mô tả kết quả công việc như một biến cấp độ cá nhân. Họ định nghĩa kết quả công việc là hành vi được thực hiện bởi nhân viên. Nó là kết quả đầu ra của người lao động thông qua năng suất và chất lượng công việc.

Đây là một trong những hành vi công việc được điều tra rộng rãi nhất trong lĩnh vực hành vi tổ chức và tâm lý nghề nghiệp. Trần Kim Dung (2015), kết quả công việc của cá nhân là khối lượng công việc được hoàn thành tương ứng với chất lượng công việc và thời gian thực hiện cụ thể. Trong môi trường học tập, sinh viên nỗ lực để đạt kết quả học tập với những mục tiêu đề ra mang tính chất tổng hợp. Kết quả học tập được xem như thước đo cho cả quá trình học tập của sinh viên và đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng học tập và giảng dạy tại các cơ sở giáo dục.

Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2007), việc đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập, xử lý thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và cho bản thân sinh viên để giúp họ học tập tiến bộ hơn. Việc đánh giá kết quả học tập có thể được đo lường thông qua việc sinh viên tự đánh giá về quá trình học tập, kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập và cơ hội tìm kiếm việc làm của mình. Nội dung đánh giá là những kết quả học tập hàng ngày, cũng như những kết quả phản 14 ánh trong kiểm tra giữa kỳ, các kỳ thi học kỳ và kết quả của việc đánh giá được thể hiện chủ yếu bằng điểm số theo thang điểm đã được quy định và dựa vào bằng chứng thực tế về sự thành công của sinh viên trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ trong quá trình học tâp và được thể hiện theo hai nghĩa trong khoa học cũng như trong thực tế: (1) là mức độ mà người học đạt được so với mục tiêu đã xác định, (2) mức độ mà người học đạt được so sánh với những người cùng học khác như thế nào trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường được gọi là kết quả học tập. Tổng quan các lý thuyết về các nghiên cứu 2.

Các nghiên cứu nước ngoài 2. Nghiên cứu của Durrah và cộng sự (2016) Durrah và cộng sự (2016) thực hiện khảo sát 110 giảng viên của Đại học Philadelphia nhằm xác định nhận thức của các giảng viên về năng lực tâm lý, từ đó đo lường mức độ thực hiện công việc, sự tác động và vai trò của năng lực tâm lý đối với hiệu suất công việc. Nghiên cứu đã đưa ra mô hình gồm 4 yếu tố năng lực tâm lý: (1) Tự tin, (2) Lạc quan, (3) Hy vọng, (4) Khả năng tự hồi phục và 4 yếu tố thuộc hiệu suất công việc: (1) Hiệu suất giáo dục, (2) Thực hiện hành vi, (3) Nghiên cứu khoa học, (4) Dịch vụ cộng đồng địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về năng lực tâm lý của đối tượng được khảo sát là cao, vì đối tượng tham gia khảo sát đều là giảng viên có trình độ cao.

Các yếu tố thuộc năng lực tâm lý như: Tự tin, hy vọng, khả năng tự hồi phục có tác động đến tất cả các yếu tố của hiệu suất công việc, còn yếu tố lạc quan không ảnh hưởng tới bất kỳ yếu tố nào của hiệu suất công việc. 1: Mô hình nghiên cứu của Durrah và cộng sự (2016) Năng lực tâm lý Hiệu suất công việc Tự hiệu quả Hiệu suất giáo dục Lạc quan Thực hiện hành vi Hy vọng Nghiên cứu khoa học Khả năng hồi phục Dịch vụ cộng đồng địa phương (Nguồn: Durrah và cộng sự, 2016) 2. Nghiên cứu của Kappagoda và cộng sự (2014) Kappagoda và cộng sự (2014), bằng việc nghiên cứu 300 bài báo có liên quan nhằm xác định khái niệm, kích thước và mối quan hệ của năng lực tâm lý và hiệu suất công việc để phát triển một khung khái niệm, xác định được tác động của năng lực tâm lý đối với hiệu suất công việc trong bối cảnh Sri Lanka. Nhóm tác giả đã đề xuất mô hình khung khái niệm bao gồm: (1) Năng lực tâm lý, (2) giá trị công việc, (3) thái độ làm việc, (4) hiệu suất công việc.

Theo bằng chứng thực nghiệm và kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và thái độ làm việc, thái độ làm việc và hiệu suất công việc, giá trị công việc và hiệu suất công việc, giá trị công việc và thái độ làm việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài báo cáo nghiên cứu mang tiêu đề "Báo cáo nghiên cứu về năng lực tâm lý và kết quả học tập của sinh viên Đại học Ngân hàng TP.HCM" do các tác giả TS. Nguyễn Văn Thụy, ThS. Đoàn Thị Thanh Hằng, ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo, và ThS. Nguyễn Phương Thảo thực hiện, tập trung vào việc đánh giá mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và kết quả học tập của sinh viên tại trường Đại học Ngân hàng TP.HCM. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hiệu quả học tập mà còn giúp các nhà quản lý giáo dục và giảng viên có những định hướng phù hợp trong việc hỗ trợ sinh viên phát triển.

Để mở rộng thêm kiến thức trong lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Đánh Giá Sự Hài Lòng Của Sinh Viên Về Chất Lượng Dịch Vụ Tại Trường Đại Học Ngoại Thương, nơi nghiên cứu về sự hài lòng của sinh viên và chất lượng dịch vụ học tập, hoặc Quản Lý Chất Lượng Đào Tạo Đại Học Từ Xa Ở Việt Nam Theo Tiêu Chuẩn AAOU, cung cấp cái nhìn về chất lượng đào tạo từ xa, một vấn đề đang được quan tâm trong giáo dục hiện đại. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Nghiên cứu ảnh hưởng của giá trị cảm nhận dịch vụ đào tạo đến sự hài lòng của sinh viên trường Đại học Văn Hiến, để hiểu rõ hơn về tác động của dịch vụ đào tạo đến sự hài lòng của sinh viên, từ đó có thể rút ra những bài học quý giá cho việc cải thiện chất lượng giáo dục.