chương 1 sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày cơ sơ lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu này. Trong chương 2, tác giả cũng trình bày mô hình nghiên cứu đề xuất và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 2.
Năng lực tâm lý Khi nói đến tâm lý, người ta nghĩ đến ngay lĩnh vực liên quan đến sức khỏe của con người, là lĩnh vực của y học hay môi trường đào tạo chuyên ngành y khoa, mà ít khi nghĩ rằng tâm lý cũng có sự liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực quản lý hay giáo dục các chuyên ngành khác ngoài chuyên ngành đào tao y khoa. Xóa bỏ quan niệm vốn tồn tại lâu đời, cuối thế kỷ XX ngành tâm lý học mở ra theo hướng mới: Tâm lý tích cực. Theo đó, một trong hai lĩnh vực nghiên cứu về tâm lý học tích cực của Martin Seligman, cựu Chủ tịch của Hiệp hội tâm lý Mỹ (American Psychological Association) và lý thuyết hành vi tổ chức tích cực (Positive organizational behavior- POB) đã chỉ ra các thành phần của tâm lý bao gồm: Tự tin, lạc quan, hy vọng, thích nghi, trí tuệ cảm xúc và giữa chúng có sự đo lường khác nhau dẫn đến mức độ ảnh hưởng cũng khác nhau, nếu có sự kết hợp giữa các thành phần này lại được gọi là năng lực tâm lý. Theo Luthans và cộng sự (2007), năng lực tâm lý là trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân và được đặc trưng bởi 4 yếu tố: Sự tự tin, sự lạc quan, sự hy vọng và khả năng tự hồi phục; là một trong những khái niệm hiện đại đã xảy ra trong lĩnh vực quản lý kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực hành vi tổ chức, đôi khi nó được gọi là hành vi tổ chức tích cực (POB).
Nguyễn Việt Ngọc Linh (2012), phát biểu rằng: Tâm lý học tích cực nhằm mục đích quan tâm đến sức khỏe tâm thần của con người bao gồm hai mục tiêu chính: (1) Giúp cho những người bình thường có được một cuộc sống phong phú và có ý nghĩa hơn. (2) Hiểu biết con người một cách đầy đủ hơn về những tiềm năng 12 tồn tại trong con người. Như vậy, năng lực tâm lý được hiểu như các yếu tố tâm lý tích cực của con người, và có tác động trực tiếp đến cuộc sống của con người. Năng lực tâm lý cá nhân và các yếu tố của năng lực tâm lý cá nhân Theo các nghiên cứu trước đây, năng lực tâm lý cá nhân hay đặc điểm cá nhân do bẩm sinh mà có như sự nhạy bén, trí thông minh… Nhưng những đặc điểm bẩm sinh như vậy không nhiều và cũng phải rèn luyện mới phát triển được và phần lớn các đặc điểm cá nhân chủ yếu do học tập, rèn luyện mà có.
Những đặc điểm ấy thường là: Tự tin, quyết đoán, sẵn sàng chịu trách nhiệm, thích ứng với môi trường, khả năng chịu đựng cao, có tinh thần hợp tác… Luthans và Youssef (2004) cho rằng, trong số các nguồn lực khác nhau, năng lực tâm lý đề cập đến một trạng thái tâm lý tích cực, được coi là vốn nhân lực, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau của người lao động, bao gồm: Cảm xúc, động lực, nhận thức và hành vi. Luthans và cộng sự (2008) phát biểu, năng lực tâm lý có vai trò trung gian, là một đầu vào tích cực về mặt chất lượng thông qua việc đạt được kết quả tích cực trong công việc phát triển nguồn nhân lực và quản lý hiệu suất lao động. Nói chung, nhân viên có năng lực tâm lý cao, trạng thái cảm xúc tích cực thì bất cứ khi nào gặp khó khăn trong công việc, họ luôn hy vọng và lạc quan. Như vậy, năng lực tâm lý có thể được xem như một tài nguyên cá nhân quan trọng, giúp con người đạt được các mục tiêu, có thể đối phó tốt hơn với những trở ngại mà họ phải đối mặt và được Luthans và cộng sự (2007) định nghĩa là trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân được đặc trưng bởi các yếu tố như: Sự tự tin: Là sự cố gắng bằng những nỗ lực cần thiết để đạt được sự thành công; Nỗ lực: Là sự kiên định đi tới mục tiêu của mình và khi cần thiết có thể thay đổi cách thức thực hiện và cả hướng đi để đi đến đích; Sự lạc quan: Là tạo ra những suy nghĩ tích cực về sự thành công sẽ đến trong hiện tại và tương lai; và Khả năng tự hồi phục/vượt khó: Là khả năng chống đỡ, giữ vững phục hồi khi gặp phải những trở ngại và khó khăn.
Kết quả công việc Kết quả công việc là việc đạt được những thành tựu nhất định của một cá nhân tại nơi làm việc, có liên quan đến việc lên kế hoạch hướng đến kết quả và chính sách hoạt động của tổ chức (Avey & cộng sự, 2010). Theo Borman và Motowidlo (1993) cho rằng kết quả công việc là các hành vi liên quan đến công việc có thể được đo lường bằng mức độ đóng góp của nhân viên vào việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, đó là quá trình đánh giá chất lượng thực hiện công việc của nhân viên và được xem là một tiêu chí quan trọng đối với thành công của một tổ chức. Các tác giả này phân loại kết quả công việc thành hai khía cạnh: hiệu suất nhiệm vụ và hiệu suất tình huống. Rotundo và Sackett (2002) cho rằng kết quả công việc bao gồm: Số lượng, chất lượng, kỹ năng làm việc và kiến thức chuyên môn của nhân viên.
Kết quả công việc được đánh giá bởi sự tin tưởng, sự hài lòng của bản thân nhân viên về chất lượng công việc thực hiện, sự đánh giá của đồng nghiệp và cấp trên (Nguyen & Nguyen, 2011). Campbell và Pritchard (1976) mô tả kết quả công việc như một biến cấp độ cá nhân. Họ định nghĩa kết quả công việc là hành vi được thực hiện bởi nhân viên. Nó là kết quả đầu ra của người lao động thông qua năng suất và chất lượng công việc.
Đây là một trong những hành vi công việc được điều tra rộng rãi nhất trong lĩnh vực hành vi tổ chức và tâm lý nghề nghiệp. Trần Kim Dung (2015), kết quả công việc của cá nhân là khối lượng công việc được hoàn thành tương ứng với chất lượng công việc và thời gian thực hiện cụ thể. Trong môi trường học tập, sinh viên nỗ lực để đạt kết quả học tập với những mục tiêu đề ra mang tính chất tổng hợp. Kết quả học tập được xem như thước đo cho cả quá trình học tập của sinh viên và đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng học tập và giảng dạy tại các cơ sở giáo dục.
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2007), việc đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập, xử lý thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và cho bản thân sinh viên để giúp họ học tập tiến bộ hơn. Việc đánh giá kết quả học tập có thể được đo lường thông qua việc sinh viên tự đánh giá về quá trình học tập, kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập và cơ hội tìm kiếm việc làm của mình. Nội dung đánh giá là những kết quả học tập hàng ngày, cũng như những kết quả phản 14 ánh trong kiểm tra giữa kỳ, các kỳ thi học kỳ và kết quả của việc đánh giá được thể hiện chủ yếu bằng điểm số theo thang điểm đã được quy định và dựa vào bằng chứng thực tế về sự thành công của sinh viên trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ trong quá trình học tâp và được thể hiện theo hai nghĩa trong khoa học cũng như trong thực tế: (1) là mức độ mà người học đạt được so với mục tiêu đã xác định, (2) mức độ mà người học đạt được so sánh với những người cùng học khác như thế nào trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường được gọi là kết quả học tập. Tổng quan các lý thuyết về các nghiên cứu 2.
Các nghiên cứu nước ngoài 2. Nghiên cứu của Durrah và cộng sự (2016) Durrah và cộng sự (2016) thực hiện khảo sát 110 giảng viên của Đại học Philadelphia nhằm xác định nhận thức của các giảng viên về năng lực tâm lý, từ đó đo lường mức độ thực hiện công việc, sự tác động và vai trò của năng lực tâm lý đối với hiệu suất công việc. Nghiên cứu đã đưa ra mô hình gồm 4 yếu tố năng lực tâm lý: (1) Tự tin, (2) Lạc quan, (3) Hy vọng, (4) Khả năng tự hồi phục và 4 yếu tố thuộc hiệu suất công việc: (1) Hiệu suất giáo dục, (2) Thực hiện hành vi, (3) Nghiên cứu khoa học, (4) Dịch vụ cộng đồng địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về năng lực tâm lý của đối tượng được khảo sát là cao, vì đối tượng tham gia khảo sát đều là giảng viên có trình độ cao.
Các yếu tố thuộc năng lực tâm lý như: Tự tin, hy vọng, khả năng tự hồi phục có tác động đến tất cả các yếu tố của hiệu suất công việc, còn yếu tố lạc quan không ảnh hưởng tới bất kỳ yếu tố nào của hiệu suất công việc. 1: Mô hình nghiên cứu của Durrah và cộng sự (2016) Năng lực tâm lý Hiệu suất công việc Tự hiệu quả Hiệu suất giáo dục Lạc quan Thực hiện hành vi Hy vọng Nghiên cứu khoa học Khả năng hồi phục Dịch vụ cộng đồng địa phương (Nguồn: Durrah và cộng sự, 2016) 2. Nghiên cứu của Kappagoda và cộng sự (2014) Kappagoda và cộng sự (2014), bằng việc nghiên cứu 300 bài báo có liên quan nhằm xác định khái niệm, kích thước và mối quan hệ của năng lực tâm lý và hiệu suất công việc để phát triển một khung khái niệm, xác định được tác động của năng lực tâm lý đối với hiệu suất công việc trong bối cảnh Sri Lanka. Nhóm tác giả đã đề xuất mô hình khung khái niệm bao gồm: (1) Năng lực tâm lý, (2) giá trị công việc, (3) thái độ làm việc, (4) hiệu suất công việc.
Theo bằng chứng thực nghiệm và kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và thái độ làm việc, thái độ làm việc và hiệu suất công việc, giá trị công việc và hiệu suất công việc, giá trị công việc và thái độ làm việc.