Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau" của nghiên cứu sinh Lê Thị Phương Nga được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (chuyên ngành Tâm lý học, mã số 9.01, năm 2021) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Đức Sơn và TS. Giáp Bình Nga.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (THPT) thường xuyên đối mặt với nhiều áp lực tâm lý xuất phát từ việc học tập, các kỳ thi chuyển cấp, định hướng nghề nghiệp tương lai, cùng các mối quan hệ xã hội phức tạp với bạn bè, thầy cô và kỳ vọng từ gia đình. Sự thiếu hụt kiến thức và kỹ năng kiểm soát stress có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe tâm thần, làm suy giảm kết quả học tập và gia tăng nguy cơ rối loạn tâm thể hoặc hành vi tiêu cực.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về stress và chương trình kiểm soát stress phần lớn tập trung vào nhóm công nhân viên chức hoặc sinh viên đại học. Nhóm đối tượng học sinh THPT chưa nhận được sự quan tâm tương xứng. Đồng thời, phần lớn các đề tài trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả mức độ, biểu hiện và nguyên nhân gây stress mà chưa đi sâu khảo sát các chiến lược ứng phó cụ thể trong mối tương quan với các biến số tâm lý cốt lõi, đặc biệt là kiểu nhân cách. Vì vậy, việc làm sáng tỏ cơ chế ứng phó với stress của học sinh THPT dựa trên các kiểu nhân cách khác nhau là khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu
Từ việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng ứng phó với stress của học sinh THPT theo các kiểu nhân cách khác nhau, luận án đề xuất hệ thống biện pháp thực tiễn nhằm giúp học sinh THPT nâng cao khả năng kiểm soát và lựa chọn chiến lược ứng phó với stress phù hợp với đặc điểm nhân cách của bản thân.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án xây dựng 03 giả thuyết khoa học chính:
- Giả thuyết 1: Khi đối diện với các tác nhân gây stress trong cuộc sống, học sinh THPT sử dụng đa dạng các chiến lược ứng phó khác nhau, bao gồm cả nhóm ứng phó hiệu quả và kém hiệu quả (cấu trúc lại nhận thức, giải quyết vấn đề, tìm kiếm hỗ trợ xã hội, mơ tưởng, đổ lỗi bản thân, lảng tránh vấn đề, cô lập bản thân).
- Giả thuyết 2: Tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa về cách thức ứng phó với stress giữa các nhóm học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau. Cụ thể, học sinh có kiểu nhân cách nhạy cảm có khuynh hướng lựa chọn các chiến lược ứng phó kém hiệu quả nhiều hơn so với các nhóm nhân cách khác.
- Giả thuyết 3: Các yếu tố chủ quan (giới tính, lứa tuổi, tinh thần lạc quan – bi quan, mức độ stress) và yếu tố khách quan (chỗ dựa xã hội từ gia đình, bạn bè, nhà trường) có ảnh hưởng và làm biến đổi hành vi ứng phó với stress của học sinh THPT; trong đó yếu tố chỗ dựa xã hội giữ vai trò tác động mạnh nhất.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng ứng phó với stress theo các kiểu nhân cách và làm rõ các yếu tố ảnh hưởng.
- Đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm hỗ trợ học sinh THPT ứng phó tích cực với stress.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và cách ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau.
- Khách thể nghiên cứu: Mẫu khảo sát gồm 571 học sinh THPT (gồm cả nam và nữ) thuộc các khối lớp 10, 11 và 12.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tiến hành tại 04 trường THPT:
- Địa bàn TP. Hà Nội (Quận Nam Từ Liêm): Trường THPT Đ.M và Trường THPT T.V.
- Địa bàn Tỉnh Thanh Hóa (Huyện Hoằng Hóa): Trường THPT L.B và Trường THPT H.H2.
- Giới hạn công cụ: Sử dụng mô hình 5 nhân tố nhân cách Big-Five (bảng kiểm BFI-S của Frieder R. Lang và cộng sự, 2011) và mô hình phân loại ứng phó CSI của Tobin và cộng sự (1989, phiên bản Garcia và cộng sự, 2007).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Tác giả luận án đã phân loại các công trình nghiên cứu quốc tế thành các khuynh hướng cơ bản:
- Nghiên cứu mô hình, chiến lược và kỹ năng ứng phó: Khởi nguồn từ công trình của Lazarus và Folkman (1984) về ứng phó tập trung vào vấn đề và cảm xúc; Compas và cộng sự (2001) với mô hình ứng phó có ý thức và không ý thức; Moos và Billings (1982), Cox và Ferguson (1991), Oláh (1995); Tobin, Holroyd, Reynolds và Wigal (1989) phân chia thành 8 chiến lược ứng phó; Bolognini, Plancherel và Halfon về sự khác biệt giới tính trong ứng phó; Frydenberg (2008) với các chương trình huấn luyện kỹ năng ứng phó nhận thức - hành vi.
- Xây dựng thang đo và bảng kiểm chuẩn hóa: Thang đo Ways of Coping Scale (WCS) của Folkman và Lazarus (1980); Bảng kiểm COPE của Carver, Scheier và Weintraub (1989); Bảng kiểm ACS của Frydenberg và Lewis (1993); Bảng kiểm CSI của Tobin và cộng sự (1989); Thang đo CASQ của Seiffge-Krenke (1995); CIS của Peacock và Wong (1996); CHIP của Endler và Parker (2000).
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và tiếp cận liên văn hóa: Các nghiên cứu chứng minh mối liên hệ giữa ứng phó với khí chất, tính cách (Flachsbart, 2007; Bolger & Zuckerman, 1995; Suls & Martin, 2005), tính lạc quan (Scheier & Carver, 1985; Solberg Nes & Segerstrom, 2006), hỗ trợ xã hội (Cohen, Kamarck & Mermelstein, 1983; Bal và cộng sự, 2003); nghiên cứu ứng phó xuyên văn hóa phương Đông - phương Tây (Naughton, 1997; O’Connor & Shimizu, 2002).
- Mối liên hệ giữa nhân cách và ứng phó với stress: Nghiên cứu của Ming Sing Chai và Chee Seong Low (2014) tại Malaysia; Halil Eksi (Thổ Nhĩ Kỳ); nghiên cứu tại Đại học Malayer (2011); nghiên cứu của Mark S. Allen, Iain Greenlees và Marc Jones (2011) trên mô hình Big Five.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các công trình được điểm luận bao gồm:
- Mô hình và kỹ năng ứng phó khó khăn: Đỗ Thị Lệ Hằng (2004, 2009) về cấu trúc tâm lý ứng phó (suy nghĩ, tình cảm, hành động); Lưu Song Hà về khó khăn chuyển cấp; Phan Thị Mai Hương (2005, 2007) về ứng phó hoàn cảnh khó khăn; Nguyễn Hữu Thụ và Nguyễn Bá Đạt (2009) về stress học tập của sinh viên ĐHQGHN; Lê Thị Thanh Thủy về học sinh lớp 12; Nguyễn Thị Minh Hằng (2014) về cảm xúc tiêu cực của học sinh THCS; Đinh Thị Hồng Vân (2014) về cảm xúc âm tính ở thanh thiếu niên Huế; Đỗ Văn Đoạt (2013), Phan Thị Tâm (2017), Nguyễn Thị Cẩm Tú (2018) về kỹ năng ứng phó của sinh viên sư phạm; Nguyễn Văn Tường (2019) về ứng phó bạo lực học đường.
- Thích ứng và ứng dụng thang đo: Trần Thị Tú Anh (2010) dùng thang ACS; Nguyễn Phước Cát Tường và Đinh Thị Hồng Vân (2010, 2012) dùng thang CSI, MSPSS, LOT-R; Trần Văn Công và cộng sự (2015) đo ứng phó bắt nạt trực tuyến; Nguyễn Thị Diễm Hằng và cộng sự (2016) chuẩn hóa CSI rút gọn 40 câu; Nguyễn Văn Lượt (2016); Nguyễn Hoàng Đông và Hồ Công Nghiệp (2018) kết hợp PSS và CSI.
- Nghiên cứu về nhân cách: Phạm Minh Hạc (2007), Phan Thị Mai Hương (2006) dùng NEO PI-R; Bùi Thị Thúy Hằng và cộng sự (2016, 2017) dùng NEO-60VN; Trương Thị Khánh Hà và Trần Hà Thu (2017, 2019) ứng dụng thang BFI-S; Võ Thị Ngọc Châu (2002), Nguyễn Thạc và Nguyễn Thị Ngọc Liên (2005), Nguyễn Thị Duyên (2012) dùng EPI.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù hai mảng đề tài về ứng phó với stress và đặc điểm nhân cách đã có nhiều công trình riêng lẻ, chưa có công trình nào tại Việt Nam đi sâu kiểm chứng thực nghiệm sự ảnh hưởng của 5 kiểu nhân cách (theo mô hình Big-Five) đến việc lựa chọn các chiến lược ứng phó với stress cụ thể ở đối tượng học sinh THPT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
- Khái niệm ứng phó: Luận án định nghĩa ứng phó là những phản ứng có ý thức của cá nhân, biểu hiện qua suy nghĩ, cảm xúc và hành động khi gặp phải tình huống khó khăn hoặc vượt quá khả năng, buộc cá nhân phải nỗ lực giải quyết nhằm thích nghi hoặc thay đổi hoàn cảnh.
- Khái niệm stress: Tiếp cận theo định nghĩa sinh lý học và tâm lý học từ W. Cannon (1914), Lazarus & Folkman (1984), là trạng thái căng thẳng tâm thể xuất hiện khi cá nhân đánh giá các đòi hỏi của môi trường vượt quá các nguồn lực thích ứng của bản thân.
- Mô hình kiểu nhân cách (Big-Five): Phân loại nhân cách thành 5 nét/chiều kích chính:
- Hướng ngoại (Extraversion): Hòa đồng, năng động, thích giao tiếp.
- Dễ mến / Đồng thuận (Agreeableness): Thân thiện, tin tưởng, giàu lòng vị tha.
- Tận tâm (Conscientiousness): Có tổ chức, kỷ luật, trách nhiệm, kiên trì.
- Nhạy cảm / Tâm lý bất ổn (Neuroticism): Dễ lo âu, căng thẳng, trải nghiệm cảm xúc tiêu cực.
- Sẵn sàng trải nghiệm / Cởi mở (Openness to Experience): Sáng tạo, ham học hỏi, linh hoạt.
- Khung phân loại chiến lược ứng phó (Tobin và cộng sự, 1989):
- Nhóm đối đầu (Engagement): Đối đầu tập trung vấn đề (Giải quyết vấn đề, Cấu trúc lại nhận thức); Đối đầu tập trung cảm xúc (Tìm kiếm hỗ trợ xã hội, Bộc lộ cảm xúc).
- Nhóm lảng tránh (Disengagement): Lảng tránh tập trung vấn đề (Lảng tránh vấn đề, Mơ tưởng); Lảng tránh tập trung cảm xúc (Đổ lỗi cho bản thân, Cô lập bản thân).
Phương pháp nghiên cứu và công cụ đo lường
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính:
| Tên công cụ / Thang đo |
Tác giả gốc |
Mục đích đo lường trong luận án |
| BFI-S (Big Five Inventory – Short Form) |
Frieder R. Lang và cộng sự (2011) |
Đánh giá 5 kiểu nhân cách của học sinh THPT |
| CSI (Coping Strategies Inventory) |
Tobin et al. (1989); Garcia et al. (2007) |
Khảo sát 8 chiến lược ứng phó với stress |
| MSPSS (Multidimensional Scale of Perceived Social Support) |
Zimet, Dahlem, Zimet & Farley (1988) |
Đánh giá nhận thức về chỗ dựa xã hội (gia đình, bạn bè, người thân) |
| LOT-R (Life Orientation Test – Revised) |
Scheier & Carver (1985) |
Đo lường mức độ tinh thần lạc quan và bi quan |
| PSS (Perceived Stress Scale) |
Cohen & Williamson (1988) |
Đánh giá mức độ cảm nhận stress của học sinh |
Các phương pháp bổ trợ định tính gồm: phương pháp chuyên gia, phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát trực tiếp hành vi, nghiên cứu trường hợp điển hình (02 trường hợp: học sinh N. và học sinh L.). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê toán học (kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, chỉ số KMO, điểm trung bình M, độ lệch chuẩn SD, kiểm định T-test, ANOVA, tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước về ứng phó, stress và kiểu nhân cách. Tác giả làm rõ các hướng tiếp cận ứng phó: tiếp cận cơ chế phòng vệ cái tôi (Haan, 1977), tiếp cận thuộc tính nhân cách ổn định (Moos, 1982), tiếp cận tình huống (Felton & Revenson, 1984), và tiếp cận quá trình tương tác động nhận thức - hành vi (Lazarus & Folkman, 1984).
Chương này cũng phân tích đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT, các nguồn gây stress học đường (áp lực thi cử, mâu thuẫn quan hệ cha mẹ, thầy cô, bạn bè khác giới) và làm rõ cơ chế tác động của các nhân tố chủ quan (lạc quan, bi quan, mức độ stress) cùng nhân tố khách quan (hỗ trợ xã hội) tới quá trình ứng phó. Tác giả xác lập khung lý thuyết gồm 8 chiến lược ứng phó theo mô hình CSI gắn với 5 kiểu nhân cách Big-Five.
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả tiến trình thực hiện nghiên cứu qua 3 giai đoạn: xây dựng cơ sở lý luận, khảo sát thử nghiệm chuẩn hóa công cụ, và khảo sát chính thức trên 571 học sinh THPT tại Hà Nội và Thanh Hóa.
Chương này trình bày chi tiết quy trình thích ứng hóa các thang đo BFI-S, CSI, MSPSS, LOT-R, PSS; quy trình thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu học sinh, giáo viên chủ nhiệm; phương pháp quan sát và thiết kế nghiên cứu trường hợp nhằm đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy của các phát hiện thực tiễn.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau
Chương 3 trình bày các kết quả thực chứng chính:
- Thực trạng kiểu nhân cách: Phân tích tỷ lệ và mức độ biểu hiện của 5 nét nhân cách ở học sinh THPT, chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam sinh và nữ sinh (nữ sinh có điểm số cao hơn ở nét nhạy cảm, đồng thuận và hướng ngoại) cũng như sự biến thiên theo khối lớp (từ lớp 10 đến lớp 12).
- Thực trạng các chiến lược ứng phó: Đánh giá tần suất sử dụng 8 cách ứng phó trên toàn mẫu. Học sinh có xu hướng sử dụng kết hợp cả chiến lược đối đầu và lảng tránh. Phân tích chỉ ra sự khác biệt rõ nét theo giới tính và khối lớp trong việc chọn lựa cách thức tháo gỡ stress.
- Mối quan hệ giữa kiểu nhân cách và ứng phó:
- Học sinh có kiểu nhân cách Nhạy cảm có tương quan thuận rõ rệt với các chiến lược ứng phó kém thích ứng như "đổ lỗi cho bản thân", "mơ tưởng" và "cô lập bản thân".
- Học sinh có kiểu nhân cách Hướng ngoại ưu tiên sử dụng chiến lược "tìm kiếm hỗ trợ xã hội".
- Học sinh có kiểu nhân cách Sẵn sàng trải nghiệm có xu hướng lựa chọn chiến lược "giải quyết vấn đề" cao hơn so với nhóm có nét dễ mến và tận tâm.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích tương quan và hồi quy xác nhận cả 3 yếu tố (chỗ dựa xã hội, tinh thần lạc quan - bi quan, mức độ stress) đều dự báo hành vi ứng phó. Trong đó, chỗ dựa xã hội (đặc biệt là từ gia đình và bạn bè) là yếu tố có tác động giải thích mạnh nhất đối với việc thúc đẩy các phản ứng ứng phó tích cực.
- Nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích sâu 02 ca thực tế (học sinh N. và học sinh L.) để minh chứng cho cơ chế nhân cách chi phối phản ứng tâm lý và hành vi giải tỏa căng thẳng.
- Đề xuất biện pháp: Xây dựng nhóm biện pháp nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng ứng phó linh hoạt theo từng kiểu nhân cách, và thiết lập mạng lưới hỗ trợ tâm lý học đường.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về ứng phó với stress của học sinh THPT dưới góc độ tiếp cận kiểu nhân cách (mô hình Big-Five).
- Xác định rõ khung cấu trúc gồm 08 chiến lược ứng phó với stress (cấu trúc lại nhận thức, giải quyết vấn đề, tìm kiếm hỗ trợ xã hội, bộc lộ cảm xúc, lảng tránh vấn đề, mơ tưởng, đổ lỗi bản thân, cô lập bản thân) trên khách thể học sinh THPT tại Việt Nam.
- Làm rõ cơ chế tương tác giữa các yếu tố chủ quan (lạc quan - bi quan, mức độ stress) và khách quan (chỗ dựa xã hội) đối với hành vi ứng phó của học sinh.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng trên 571 học sinh THPT, chỉ ra thực trạng phân hóa kiểu nhân cách và sự khác biệt về chiến lược ứng phó theo giới tính, khối lớp và địa bàn (đô thị Hà Nội và nông thôn Thanh Hóa).
- Phát hiện các mối tương quan đặc trưng: kiểu nhân cách nhạy cảm có nguy cơ cao lựa chọn các hành vi ứng phó tiêu cực/kém hiệu quả; kiểu nhân cách hướng ngoại và sẵn sàng trải nghiệm có xu hướng kích hoạt các chiến lược chủ động và thích nghi tốt hơn.
- Khẳng định vai trò quyết định của "chỗ dựa xã hội" như một nhân tố bảo vệ then chốt có thể điều chỉnh và định hướng hành vi ứng phó của học sinh khi gặp căng thẳng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp tâm lý - giáo dục có tính khả thi, phân hóa theo đặc điểm nhân cách của từng nhóm học sinh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về địa bàn và mẫu khảo sát: Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 571 học sinh tại 04 trường THPT thuộc Hà Nội và Thanh Hóa, chưa bao quát được các vùng miền văn hóa và khu vực địa lý khác trên toàn quốc.
- Hạn chế về công cụ: Việc sử dụng các thang đo rút gọn tự thuật (như BFI-S, CSI phiên bản thích nghi) có thể chịu ảnh hưởng nhất định từ xu hướng tự chấm điểm thiên lệch mang tính xã hội mong đợi của học sinh.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tỉnh thành và các loại hình trường học khác (trường chuyên, trường nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên).
- Triển khai các nghiên cứu thực nghiệm can thiệp tác động sâu (action research), đánh giá hiệu quả của các chương trình tập huấn kỹ năng ứng phó với stress được thiết kế riêng biệt cho từng nhóm kiểu nhân cách cụ thể.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp định tính - định lượng, quy trình chuẩn hóa và ứng dụng các bảng kiểm trắc nghiệm tâm lý quốc tế (BFI-S, CSI, MSPSS, LOT-R, PSS) vào bối cảnh học đường Việt Nam.
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên THPT: Cung cấp bức tranh thực tế về đời sống tâm lý lứa tuổi, giúp giáo viên nhận diện sớm các dấu hiệu stress và hành vi ứng phó thiếu thích ứng của học sinh để kịp thời hỗ trợ.
- Đối với chuyên viên tham vấn học đường và phụ huynh học sinh: Là cơ sở khoa học để xây dựng các chương trình tư vấn tâm lý cá nhân hóa, đồng thời nhấn mạnh vai trò của gia đình và bạn bè trong việc tạo lập môi trường hỗ trợ an toàn, giúp học sinh vượt qua khủng hoảng tâm lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những công cụ đo lường chuẩn hóa nào để thu thập dữ liệu?
Luận án sử dụng 5 công cụ chuẩn hóa: Bảng kiểm nhân cách 5 nhân tố rút gọn (BFI-S của Frieder R. Lang et al., 2011), Bảng kiểm chiến lược ứng phó (CSI của Tobin et al., 1989; Garcia et al., 2007), Thang đo hỗ trợ xã hội (MSPSS của Zimet et al., 1988), Thang đo định hướng cuộc sống lạc quan/bi quan (LOT-R của Scheier & Carver, 1985) và Thang đo mức độ cảm nhận stress (PSS của Cohen & Williamson, 1988).
2. Mẫu khách thể nghiên cứu thực tiễn của luận án gồm những ai và ở đâu?
Khách thể nghiên cứu gồm 571 học sinh THPT từ lớp 10 đến lớp 12 (bao gồm cả nam và nữ), được khảo sát tại 4 trường: THPT Đ.M, THPT T.V (Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) và THPT L.B, THPT H.H2 (Huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa).
3. Học sinh có kiểu nhân cách "Nhạy cảm" thường có xu hướng ứng phó với stress như thế nào?
Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy những học sinh thuộc kiểu nhân cách nhạy cảm có khuynh hướng rõ rệt trong việc sử dụng các chiến lược ứng phó kém hiệu quả và né tránh, cụ thể là: "đổ lỗi cho bản thân", "mơ tưởng" và "cô lập bản thân".
4. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến cách ứng phó với stress của học sinh THPT?
Kết quả phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính trong luận án khẳng định yếu tố "chỗ dựa xã hội" (bao gồm sự nâng đỡ, chia sẻ từ gia đình, bạn bè và môi trường nhà trường) là nhân tố có tác động mạnh mẽ nhất đến việc lựa chọn và điều chỉnh các cách ứng phó với stress của học sinh THPT.
Kết luận
Luận án của tác giả Lê Thị Phương Nga đã giải quyết một vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong tâm lý học học đường Việt Nam. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết chuẩn mực và phương pháp khảo sát thực chứng chặt chẽ trên 571 học sinh THPT, công trình đã làm sáng tỏ mối liên hệ bản chất giữa 5 kiểu nhân cách Big-Five với các chiến lược ứng phó với stress. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng kiểu nhân cách quy định xu hướng phản ứng tâm lý, trong khi chỗ dựa xã hội đóng vai trò trợ lực cốt lõi giúp học sinh chuyển đổi sang các hành vi ứng phó tích cực. Hệ thống giải pháp can thiệp được đề xuất trong luận án mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác giáo dục và tham vấn tâm lý học đường hiện nay.