Luận Án Tiến Sĩ Tâm Lý Học: Cách Học Sinh THPT Ứng Phó Với Stress Theo Kiểu Nhân Cách

Luận án tiến sĩ tâm lý học khám phá cách ứng phó với stress của học sinh THPT dựa trên kiểu nhân cách khác nhau, cung cấp góc nhìn sâu sắc và giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

230
7
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và cơ sở lý luận

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc ứng phó stress của học sinh THPT dựa trên kiểu nhân cách khác nhau. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu và quản lý stress trong môi trường học đường, đặc biệt là ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Tâm lý học đườnggiáo dục học sinh là hai lĩnh vực chính được khai thác để phân tích các phương pháp ứng phó hiệu quả. Luận án cũng đề cập đến các giải pháp stressquản lý căng thẳng thông qua việc nghiên cứu tâm lý họcphát triển nhân cách.

1.1. Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu tổng hợp các công trình về ứng phó stresskiểu nhân cách, đồng thời phân tích mối liên hệ giữa hai yếu tố này. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng học sinh THPTkiểu nhân cách khác nhau sẽ có cách ứng phó khác biệt. Nghiên cứu tâm lý cũng cho thấy sự cần thiết của việc hỗ trợ tâm lýgiáo dục trung học để giúp học sinh phát triển kỹ năng sốngquản lý căng thẳng.

1.2. Lý luận về ứng phó stress

Luận án dựa trên lý thuyết của Lazarus và Folkman (1984) về ứng phó stress, trong đó nhấn mạnh vai trò của nhận thức và hành vi trong việc giải quyết các tình huống căng thẳng. Học sinh THPT được xem là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi stress do áp lực học tập và các mối quan hệ xã hội. Việc phân loại kiểu nhân cách giúp xác định các phương pháp ứng phó phù hợp với từng nhóm học sinh.

II. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để thu thập và phân tích dữ liệu. Các phương pháp bao gồm nghiên cứu tài liệu, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, và quan sát. Đối tượng nghiên cứu là 571 học sinh THPT từ các trường khác nhau, nhằm đảm bảo tính đa dạng và đại diện. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học cũng được áp dụng để đảm bảo độ chính xác của kết quả.

2.1. Tổ chức nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua ba giai đoạn: chuẩn bị, thu thập dữ liệu và phân tích. Địa bàn nghiên cứu bao gồm các trường THPT tại Hà Nội và Thanh Hóa. Khách thể nghiên cứu được lựa chọn ngẫu nhiên để đảm bảo tính khách quan. Các phương pháp nghiên cứu được thiết kế phù hợp với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu.

2.2. Phương pháp phân tích

Dữ liệu được phân tích bằng các công cụ thống kê như phân tích hồi quy và tương quan. Phương pháp chuyên gia cũng được sử dụng để đánh giá tính hợp lý của các kết quả nghiên cứu. Các yếu tố như chỗ dựa xã hội, tinh thần lạc quan, và mức độ stress được xem xét để tìm hiểu ảnh hưởng của chúng đến cách ứng phó của học sinh.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh THPTkiểu nhân cách khác nhau sử dụng các phương pháp ứng phó khác nhau khi đối mặt với stress. Những học sinh có kiểu nhân cách nhạy cảm thường sử dụng các cách ứng phó kém hiệu quả như đổ lỗi bản thân và cô lập bản thân. Ngược lại, học sinh có kiểu nhân cách hướng ngoại thường tìm kiếm hỗ trợ xã hộigiải quyết vấn đề một cách tích cực.

3.1. Thực trạng ứng phó stress

Nghiên cứu chỉ ra rằng học sinh THPT thường gặp stress do áp lực học tập và các mối quan hệ xã hội. Các cách ứng phó phổ biến bao gồm tìm kiếm hỗ trợ tâm lý, giải quyết vấn đề, và lảng tránh vấn đề. Tuy nhiên, không phải tất cả các cách ứng phó đều mang lại hiệu quả tích cực, đặc biệt là với những học sinh có kiểu nhân cách nhạy cảm.

3.2. Yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố như chỗ dựa xã hội, tinh thần lạc quan, và mức độ stress có ảnh hưởng đáng kể đến cách ứng phó của học sinh. Chỗ dựa xã hội được xem là yếu tố quan trọng nhất, giúp học sinh có thêm nguồn lực để đối mặt với stress. Tư vấn học đườnggiáo dục học sinh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ học sinh phát triển kỹ năng sốngquản lý căng thẳng.

IV. Kết luận và kiến nghị

Luận án kết luận rằng việc hiểu rõ kiểu nhân cách của học sinh THPT là yếu tố quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp stress hiệu quả. Các phương pháp ứng phó cần được thiết kế phù hợp với từng nhóm học sinh để đạt hiệu quả cao nhất. Giáo dục trung họchỗ trợ tâm lý cần được tăng cường để giúp học sinh phát triển kỹ năng sốngquản lý căng thẳng một cách toàn diện.

4.1. Đóng góp của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các lý thuyết về ứng phó stresskiểu nhân cách, đồng thời cung cấp các bằng chứng thực tiễn về cách học sinh THPT đối mặt với stress. Các giải pháp được đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu có thể áp dụng trong thực tế để hỗ trợ học sinh phát triển kỹ năng sốngquản lý căng thẳng.

4.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các giải pháp stress được đề xuất trong luận án. Các nghiên cứu cũng nên mở rộng đối tượng và địa bàn nghiên cứu để đảm bảo tính khái quát và ứng dụng rộng rãi. Tư vấn học đườnggiáo dục học sinh cần được tiếp tục phát triển để hỗ trợ học sinh một cách toàn diện.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ tâm lý học ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau. Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về ứng phó với stress của học sinh THPT có kiểu nhân cách khác nhau. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÓ KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU 1.

Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về ứng phó với stress Trên thế giới, vấn đề ứng phó với khó khăn tâm lý nói chung và ứng phó với stress nói riêng đƣợc nghiên cứu theo nhiều xu hƣớng khác nhau. Qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi tổng hợp, phân tích theo một số xu hƣớng chính sau đây: Xu hướng thứ nhất là nghiên cứu các mô hình ứng phó (coping model), chiến lƣợc ứng phó (coping strategies) và k năng ứng phó (coping skills). Theo tác giả Compas và các cộng sự (2001) cho rằng, nhìn chung có 3 mô hình ứng phó phổ biến ở lứa tuổi trẻ em và VTN: 1/ ứng phó tập trung vào vấn đề và tập trung vào cảm xúc, 2/ ứng phó kiểm soát lần thứ nhất và ứng phó kiểm soát lần thứ hai, 3/ ứng phó đối đầu và lảng tránh.

Tuy nhiên, các cách phân loại này bị chỉ trích là quá khái quát nên chƣa phản ánh rõ một số cách ứng phó đặc trƣng ở trẻ VTN. Trên cơ sở đó, Compas và các cộng sự (2001) đã đƣa ra mô hình kết hợp đƣợc các nhóm ứng phó trên, đó là chia ứng phó thành 02 nhóm ứng phó là: ứng phó có ý thức và ứng phó không ý thức [81]. Ngoài ra còn có một số mô hình ứng phó của Oláh nhƣ ứng phó đồng hóa, thích nghi và lảng tránh (1995) [116] hay ứng phó đặt trọng tâm vào vấn đề, vào cảm xúc và lảng tránh của Cox và Ferguson (1991) [83]; ứng phó tập trung vào nhận thức, vào vấn đề và cảm xúc (Moos và Billings, 1982) [111]. Trƣớc đó, Tobin, Holroyd, Reynolds và Wigal (1989) cho rằng có hai phƣơng án ứng phó với hoàn cảnh, đó là ứng phó đối đầu và lảng tránh.

Ứng phó đối đầu gồm có đối đầu tập trung vào vấn đề và đối đầu tập trung vào cảm xúc; ứng phó lảng tránh gồm lảng tráng tập trung vào vấn đề và lảng tránh tập trung vào cảm xúc. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả này phân chia các phƣơng án ứng phó một cách chi tiết hơn thành 8 nhóm: 1/ Giải quyết vấn đề; 2/ Cấu trúc lại nhận thức; 3/ Tìm kiếm chỗ 9 dựa xã hội; 4/ Bộc lộ cảm xúc; 5/ Lảng tránh vấn đề; 6/ Mơ tƣởng; 7/ Đổ lỗi cho bản thân; 8/ Cô lập bản thân [130]. Trong nghiên cứu ―Đánh giá các chiến lược ứng phó của thanh thiếu niên: có sự khác nhau theo tuổi và theo giới tính hay không?” của các tác giả Bolognini Monique, Plancherel Bernard và Halfon Olivier đã tìm hiểu các cách ứng phó theo đặc trƣng giới, mối tƣơng quan giữa việc lựa chọn các cách ứng phó với sức khỏe tâm trí theo giới tính và theo độ tuổi. Các tác giả đã đƣa ra những cách thức ứng phó nhƣ: sử dụng quan hệ xã hội, gia đình, tình cảm sự giải trí, hài hƣớc, cam kết, tiêu xài.

Các kết quả khẳng định nữ giới tự điều chỉnh tùy theo khó khăn bằng cách tham gia nhiều hơn vào các quan hệ xã hội (bạn bè, anh chị em, bố mẹ và các ngƣời lớn khác). Trong khi đó, nam giới lại cố gắng nhiều hơn trong việc giữ ý nghĩa của sự hài hƣớc và tiến hành một hoạt động thể lực mạnh mẽ. Về mối quan hệ sức khỏe tâm trí và các cách thức ứng phó, nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ [69, tr. Các tác giả Nezu và Ronan (1988) khi nghiên cứu về k năng ứng phó của trẻ VTN đã chỉ ra rằng nếu VTN không có k năng phòng ngừa những tác động của hoàn cảnh có thể dẫn đến stress, trầm cảm và lo âu.

Để giải quyết đƣợc các vấn đề, VTN cần có niềm tin dựa vào năng lực, xác lập đƣợc những k năng ứng phó với hoàn cảnh khó khăn của bản thân [74, tr. Ngoài ra, tác giả Frydenberg (2008) đã đề cập đến một số chƣơng trình hình thành k năng ứng phó tích cực nhƣ: Chƣơng trình cách ứng phó tốt nhất (The Best of Coping); Chƣơng trình ứng phó với cơn giận (The Anger Coping); Chƣơng trình thời cơ cho sự phát triển (Seasons for Growth); Chƣơng trình ứng phó với cảm xúc cho trẻ VTN (The Adolescent Coping with Emotions). Hầu hết các chƣơng trình hình thành cách ứng phó tích cực cho trẻ VTN đều dựa trên tiếp cận nhận thức - hành vi [91]. Có thể thấy, đây là hƣớng nghiên cứu có tính ứng dụng và thực tiễn cao, vì vậy nó thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu có liên quan (dẫn theo Nguyễn Văn Tƣờng, 2019) [59].

10 Xu hướng nghiên cứu thứ hai rất thiết thực và có giá trị thực tiễn cao khi nghiên cứu về ứng phó là phát triển các thang đo (scale) hay bảng kiểm (inventory) đánh giá hành vi ứng phó. Theo Frydenberg (2002), xu hƣớng này ra đời nhằm chỉ rõ cách thức con ngƣời đã nỗ lực ứng phó trong các tình huống, trên cơ sở đó đề xuất các chƣơng trình hỗ trợ cá nhân phát triển và điều chỉnh khả năng ứng phó của họ. Động cơ thứ hai thúc đẩy hƣớng nghiên cứu này là sự cần thiết có những công cụ đánh giá cho các nhà tâm lí nói chung và tâm lí lâm sàng nói riêng trong việc chẩn đoán và can thiệp [90]. Theo Compas và cộng sự (2001), có 4 phƣơng pháp đã đƣợc sử dụng để đánh giá cách ứng phó nói chung và ứng phó với các cảm xúc âm tính nói riêng: 1/ bảng hỏi tự thuật, 2/ phỏng vấn bán cấu trúc, 3/ quan sát hành vi và 4/ những báo cáo từ những ngƣời thân thích, gần gũi (bố mẹ, thầy cô, bạn bè).

Trong 4 phƣơng pháp đó, bảng hỏi tự thuật đƣợc sử dụng nhiều nhất và phát triển khá mạnh. Các hình thức phổ biến của bảng hỏi để đo các cách ứng phó là thang đo hoặc bảng kiểm [81]. Theo Compsa (1988) và Frydenberg (2008), việc nghiên cứu những công cụ đo lƣờng, đánh giá cách ứng phó của con ngƣời đƣợc quan tâm từ những năm cuối thập niên 1980, từ đó cho đến nay có nhiều thang đo và bảng kiểm đã đƣợc xây dựng và phát triển. Cụ thể: Thang đo cách ứng phó (Way of Coping Scale, WCS) của Folkman và Larazus (1980) đã đo hai kiểu ứng phó cơ bản nhất là: kiểu ứng phó tập trung cảm xúc và kiểu ứng phó tập trung giải quyết vấn đề.

Trong đó, kiểu ứng phó tập trung cảm xúc là kiểu ứng phó chú ý nhiều đến cảm xúc cá nhân, nhằm mục đích làm giảm mức độ stress của con ngƣời khi họ rơi vào những tình huống khó khăn. Còn kiểu ứng phó tập trung giải quyết vấn đề là kiểu ứng phó hƣớng vào việc giải quyết vấn đề hay định hƣớng để thay đổi hoàn cảnh. Tuy nhiên, cách ứng phó của con ngƣời trên thực tế không chỉ đơn giản là hai cách nhƣ Folkman và Lazarus đã nêu, mà nó mang tính đa dạng. Nên, một thang đo khác đƣợc ra đời.

Đó là trắc nghiệm COPE của Carver, Sheier và Weintraub (1989). Trong trắc nghiệm này, các tác giả đã đề nghị năm thang đo là những khía cạnh 11 khác nhau của cách ứng phó tập trung vào vấn đề (ứng phó tích cực, lập kế hoạch, che dấu hoạt động cạnh tranh, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, kiềm chế), năm thang đo về cách ứng phó tập trung vào cảm xúc (tìm kiếm chỗ dựa tình cảm, diễn giải dƣơng tính, chấp nhận, phủ nhận, đi theo tôn giáo) và ba thang đo cách ứng phó đƣợc cho là không hữu ích (hành vi tiêu cực, quá nhấn mạnh vào cảm xúc, tinh thần tiêu cực). Tiếp đến là một thang đo khác cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu sử dụng là ―thang đo cách ứng phó của trẻ vị thành niên‖ ACS (The Adolescent Coping Scale) đƣợc Frydenberg và Lewis xây dựng năm (1993). Thang đo này bao gồm 8 items, đƣợc chia thành 3 nhóm ứng phó cơ bản: giải quyết vấn đề, tìm kiếm sự hỗ trợ, và các kiểu ứng phó không hiệu quả.

Ngoài những thang đo đƣợc liệt kê ở trên còn có nhiều trắc nghiệm và bảng kiểm khác đƣợc xây dựng và ứng dụng trong hơn hai thập niên qua là; Bảng kiểm chiến lƣợc ứng phó của Tobin, Holroyd, Reynolds và Wigal (1989); Bảng hỏi về ứng phó qua các tình huống – CASQ (Coping Cross Situation Questionaire) của Seiffge-Krenke (1995); Bảng kiểm về hệ thống ứng phó (Coping Schemas Inventory, CIS) của Peacok và Wong (1996); Công cụ đánh giá ứng phó với tổn thƣơng và vấn đề sức khỏe (Coping with Heath Injuries and Problems, CHIP) của Endler và Parker (2000)…[dẫn theo 60]. Các thang đo này tạo điều kiện cho hàng loạt các nghiên cứu về thực trạng ứng phó đƣợc thực hiện một cách khoa học và rộng rãi trên nhiều đối tƣợng khác nhau. Một số nghiên cứu về ứng phó với stress trên học sinh – sinh viên đã đƣợc tiến hành nhƣng chƣa thật nhiều. Đặc biệt, một số nghiên cứu về ứng phó với stress trên học sinh còn khá tản mạn, chủ yếu sử dụng các bảng hỏi mà không tận dụng các thang đo đã đƣợc chuẩn hóa (Barba & các cộng sự, 2004).

Xu hướng thứ ba khá phổ biến khi tiếp cận vấn đề ứng phó với stress là nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi ứng phó của học sinh. Các nghiên cứu theo hƣớng này đã chỉra rằng, trong các yếu tố ảnh hƣởng đến cách ứng phó của học sinh, có các yếu tố thuộc về cá nhân học sinh và những yếu tố thuộc về môi trƣờng sống (nhƣ gia đình, nhà trƣờng và xã hội). 12 Các tác giả trên thế giới quan tâm nhiều nhất đến các đặc điểm tâm lí, nhân cách. Các nghiên cứu đã chứng tỏ cách ứng phó có mối quan hệ với khí chất (Ebata và Moos, 1994; Kurdek và Sinclair, 1988); tính cách (Flachsbart, 2007; Bolger và Zuckerman, 1995; Grant và Langan-Fox, 2007; Gunthert và các cộng sự, 1999; Penley và Tomaka, 2002; Suls và Martin, 2005) [dẫn theo Carver và cộng sự, 2010]; tính lạc quan - bi quan (Solberg Nes và Segerstrom, 2006; theo Carver và J.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Ứng Phó Stress Học Sinh THPT Theo Kiểu Nhân Cách" khám phá cách mà các đặc điểm nhân cách ảnh hưởng đến khả năng ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa nhân cách và stress mà còn đưa ra những phương pháp hữu ích giúp học sinh cải thiện khả năng quản lý căng thẳng. Độc giả sẽ tìm thấy những chiến lược thực tiễn để nâng cao sức khỏe tâm lý, từ đó cải thiện hiệu suất học tập và đời sống cá nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về tâm lý học học sinh, bạn có thể tham khảo Luận văn tâm lý học học tập theo nhóm tâm lý học thanh niên, nơi nghiên cứu về sự tương tác trong học tập nhóm và ảnh hưởng của nó đến tâm lý thanh niên. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ tâm lý học lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh sẽ cung cấp thêm thông tin về lo âu học đường, một vấn đề phổ biến trong giới học sinh. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học the impact of anxiety on the 10th grade students oral performance at ham long upper secondary school in bac ninh a case study, nghiên cứu tác động của lo âu đến kỹ năng nói của học sinh, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ảnh hưởng của stress trong môi trường học đường.