Luận án tiến sĩ về lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông tại TP.HCM

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tâm lý học lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh, phân tích nguyên nhân và giải pháp.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

253
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam

1.4. Các lý thuyết tiếp cận

1.4.1. Tiếp cận tâm lý học đường

1.4.2. Tiếp cận nhận thức- hành vi

1.4.3. Tiếp cận tâm lý học hoạt động

1.4.4. Tiếp cận phân tâm học

1.5. Khái niệm về lo âu

1.6. Đặc điểm, biểu hiện của lo âu

1.7. Phân loại và tiêu chí chẩn đoán lo âu

1.8. Các biện pháp hỗ trợ tâm lý làm giảm tình trạng lo âu

1.9. Lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông

1.9.1. Khái niệm lo âu học đường

1.9.2. Học sinh trung học phổ thông

1.9.3. Lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông

1.9.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông

1.9.4.1. Những yếu tố khách quan
1.9.4.2. Những yếu tố chủ quan

1.10. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vài nét chung về địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Tổ chức nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Tiến trình nghiên cứu

2.5. Các phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

2.5.2. Phương pháp trắc nghiệm tâm lý

2.5.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.5.4. Phương pháp thảo luận nhóm

2.5.5. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.5.6. Phương pháp chuyên gia

2.5.7. Phương pháp nghiên cứu trường hợp

2.5.8. Phương pháp thực nghiệm tác động

2.5.9. Phương pháp thống kê toán học

2.6. Công cụ nghiên cứu

2.6.1. Thang đo lo âu học đường

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN LO ÂU HỌC ĐƯỜNG Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Phân loại đánh giá tỉ lệ học sinh có biểu hiện lo âu học đường

3.2. So sánh mức độ lo âu học đường của học sinh theo các tiêu chí

3.3. Kết quả đánh giá của học sinh bằng thang đo lo âu học đường

3.4. Những biểu hiện bất thường của lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông

3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường của học sinh THPT

3.6. Những hậu quả của lo âu học đường và những mong muốn của bản thân học sinh với người khác

3.6.1. Những hậu quả của lo âu học đường đối với bản thân học sinh

3.6.2. Những mong muốn của bản thân

3.7. Đề xuất một số biện pháp phòng ngừa và can thiệp tình trạng lo âu học đường của học sinh THPT

3.8. Kết quả thực nghiệm các biện pháp hỗ trợ tâm lý cho học sinh có biểu hiện lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông

3.8.1. Kết quả đánh giá bằng thang đo lo âu học đường trước và sau thực nghiệm

3.8.2. Những biểu hiện bất thường trước và sau khi thực nghiệm

3.8.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực nghiệm

3.8.4. Thuận lợi và khó khăn trong quá trình làm thực nghiệm

3.8.5. Phân tích các trường hợp cụ thể

3.9. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về lo âu học đường

Lo âu học đường là một vấn đề tâm lý phổ biến trong lứa tuổi học sinh trung học phổ thông. Tâm lý học đã chỉ ra rằng, giai đoạn này là thời kỳ chuyển tiếp quan trọng, nơi mà học sinh phải đối mặt với nhiều áp lực từ học tập và xã hội. Lo âu học đường không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần mà còn tác động đến hiệu suất học tập của học sinh. Theo nghiên cứu, tỷ lệ học sinh có biểu hiện rối loạn lo âu trong môi trường học đường cao hơn so với các lứa tuổi khác. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về tình trạng tâm lý của học sinh, đặc biệt là trong bối cảnh giáo dục hiện đại tại TP.HCM.

1.1. Đặc điểm và biểu hiện của lo âu học đường

Biểu hiện của lo âu học đường ở học sinh rất đa dạng, từ cảm giác lo lắng, hồi hộp đến các triệu chứng thể chất như đau đầu, mất ngủ. Học sinh trung học thường gặp khó khăn trong việc quản lý cảm xúc và áp lực học tập. Nghiên cứu cho thấy, những học sinh có tình trạng tâm lý không ổn định thường có xu hướng đánh giá thấp bản thân và cảm thấy không đủ khả năng so với bạn bè. Điều này dẫn đến việc các em dễ bị rối loạn lo âu và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng nếu không được phát hiện và hỗ trợ kịp thời.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường

Nhiều yếu tố có thể tác động đến tình trạng tâm lý của học sinh, bao gồm áp lực từ gia đình, bạn bè và môi trường học tập. Giáo dục hiện đại tại TP.HCM đặt ra nhiều yêu cầu cao đối với học sinh, dẫn đến việc các em phải chịu áp lực lớn trong việc đạt thành tích học tập. Sự kỳ vọng từ cha mẹ cũng là một yếu tố quan trọng, khi mà nhiều phụ huynh mong muốn con cái đạt được thành tích xuất sắc. Điều này có thể tạo ra một môi trường căng thẳng, làm gia tăng rối loạn lo âu trong học sinh. Việc nhận diện và hiểu rõ các yếu tố này là rất cần thiết để có thể đưa ra các biện pháp hỗ trợ hiệu quả.

2.1. Yếu tố khách quan và chủ quan

Yếu tố khách quan như áp lực thi cử, yêu cầu học tập cao và môi trường học đường có thể làm gia tăng lo âu học đường. Trong khi đó, yếu tố chủ quan như tính cách, khả năng tự quản lý cảm xúc cũng đóng vai trò quan trọng. Học sinh có khả năng tự nhận thức và quản lý cảm xúc tốt thường ít bị ảnh hưởng bởi rối loạn lo âu hơn. Do đó, việc giáo dục kỹ năng sống và quản lý cảm xúc cho học sinh là rất cần thiết để giảm thiểu tình trạng này.

III. Biện pháp hỗ trợ tâm lý cho học sinh

Để giảm thiểu lo âu học đường, cần có các biện pháp hỗ trợ tâm lý hiệu quả. Các chương trình can thiệp tâm lý, như liệu pháp hành vi nhận thức, có thể giúp học sinh nhận diện và điều chỉnh những suy nghĩ tiêu cực. Hỗ trợ tâm lý từ giáo viên và chuyên gia cũng rất quan trọng trong việc tạo ra một môi trường học tập tích cực. Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tạo cơ hội cho học sinh giao lưu và thư giãn cũng góp phần làm giảm tình trạng tâm lý căng thẳng. Các biện pháp này không chỉ giúp học sinh cải thiện sức khỏe tâm thần mà còn nâng cao hiệu suất học tập.

3.1. Các chương trình can thiệp

Các chương trình can thiệp tâm lý cần được triển khai một cách đồng bộ và có hệ thống trong các trường học. Việc đào tạo giáo viên về tâm lý học và cách nhận diện các dấu hiệu lo âu học đường là rất cần thiết. Ngoài ra, việc phối hợp với các chuyên gia tâm lý để tổ chức các buổi tư vấn và hỗ trợ cho học sinh cũng là một giải pháp hiệu quả. Các biện pháp này không chỉ giúp học sinh vượt qua khó khăn mà còn tạo ra một môi trường học tập an toàn và thân thiện.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Lo âu được biết đến rất sớm, từ thời Hy Lạp cổ đại- thế kỷ IV trước công nguyên do Hypocrate (460- 377BC) mô tả, với một dạng bệnh thường gặp mà biểu hiện của nó là cảm giác co thắt và ngột ngạt khó thở, lo âu được cho là những cuộc đấu tranh của tâm hồn- quan niệm này tồn tại hàng chục thế kỷ sau đó. Trong suốt thời gian này, lo âu được nói nhiều nhưng chủ yếu trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn học; được xem như dục vọng của tâm hồn, suy nghĩ của ma quỷ.

Người ta không chú ý nghiên cứu về bản chất của các cảm xúc mà chỉ tìm cách chế ngự nó. Lo âu được lãng mạn hóa và thần thoại hóa, được cho là cách thể hiện sự u sầu chứ không phải là bệnh lý cần nghiên cứu [44; tr.128] Charles Darwin- Ông tổ của ngành sinh vật trong tác phẩm: “Biểu hiện của cảm xúc ở người và động vật” 1872 đã mô tả “Con người đã trải qua các thế hệ đã cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù nguy hiểm với niềm sợ hãi, lo âu ngày một tăng lên”. Lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể bất cứ bộ phận nào. Năm 1844, Kerkgard- nhà tâm thần học và y học người Đan Mạch đã sử dụng thuật ngữ Angest để chỉ trạng thái lo âu ở con người.

Năm 1866, Morel đã gộp những trạng thái lo âu lại với nhau và ông gọi là “Hoang tưởng cảm xúc”, trạng thái này khác với chứng Hysterie và bệnh hypochondria. Năm 1895, trên cơ sở phân tích các hiện tượng lâm sàng rối loạn ám ảnh, Freud đã đề xuất thuật ngữ “nhiễu tâm lo âu”, ông cho rằng sở dĩ các bệnh nhân có chứng nhiễu tâm lo âu là do sự xung đột của nội tâm vô thức. Thuật ngữ này của của S.Freud đã được khá nhiều người chấp nhận và được sử dụng trong thời gian dài từ đầu thế kỷ XX cho đến những năm 60 của thế kỷ này [27]. Charles Darwin với học thuyết tiến hóa- năm 1872 đã nói rõ nguồn gốc và bản chất của sợ hãi và lo âu.

Các nhà tâm lý học và tâm thần học bắt đầu nghiên cứu mô tả lo âu và bản chất của nó [30; tr. Có lẽ sự kiện có sức thuyết phục nhất trong lịch sử nghiên cứu về lo âu đó là học thuyết của S.Freud (1894) về chứng suy nhược thần kinh, với mục đích tiếp cận và làm sáng tỏ khái niệm lo âu.Freud đã phân tích chứng suy nhược thần kinh 7 thành hội chứng riêng biệt và gọi là “Lo âu loạn thần kinh chức năng” (anxiety neurosis). Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly và rối loạn nghi bệnh cũng được xem là loạn thần kinh chức năng và được cho là có nguồn gốc tâm lý, còn tình trạng ám ảnh có kèm lo âu- theo S.Freud có nguồn gốc xuất phát từ những cơ quan trong cơ thể. Quan điểm về bệnh học này đã để lại ảnh hưởng trong một thời gian dài của thế kỷ XX.

Tuy không có bằng chứng khoa học xác đáng nhưng học thuyết này cũng làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách nhìn mới về lâm sàng. Theo quan điểm của S.Freud, trong “lo âu thần kinh chức năng” (anxiety neurosis) các triệu chứng của lo âu bao gồm cả các triệu chứng cơ thể. Từ những tri thức quý giá của S.Freud, thuật ngữ “lo âu lan tràn” (free floating anxiety),mà sau này đổi thành (rối loạn lo âu lan tỏa) được hình thành với những đặc điểm nổi bật như: lo âu quá mức, bồn chồn dễ kích thích [29; tr. 629] Năm 1964, nhà tâm lý học và dược lý học tâm thần Klein đã tách hội chứng lo âu toàn thể (general anxiety syndrome) thành rối loạn hoảng sợ và rối loạn lo âu lan tỏa dựa trên sự đáp ứng đối với thuốc Imipramin.

Theo nghiên cứu của Klein, rối loạn hoảng sợ đáp ứng với Imipramin còn rối loạn lo âu lan tỏa thì không đáp ứng. Có những ý kiến đồng thuận và không đồng thuận về quan điểm của Klein [96]. DSM- I (APA, 1952) và DSM- II (APA, 1968) đã sắp xếp các rối loạn tâm thần thành các rối loạn thứ phát từ lo âu và lo âu trở thành nguyên nhân gây ra những bất ổn định về tâm thần. DSM- III (APA, 1980) đã đồng thuận với quan điểm của Klein (về tình trạng lo âu toàn thể dai dẳng) và sắp xếp phân loại rối loạn này một cách hệ thống.

DSM - III là tài liệu đầu tiên nghiên cứu về RLLALT - sự kiện này đánh dấu một mốc quan trọng trong hiểu biết của chúng ta về lo âu trong tâm thần học. Tiếp theo đó là DSM-III-R (APA,1987), DSM - IV (APA,1994) và DSM- IV-TR (APA,2000), rối loạn lo âu lan tỏa được bổ sung với mức độ tinh tế hơn về bố cục sắp xếp, tiêu chuẩn chẩn đoán, bản chất, cơ chế,dịch tễ học, các rối loạn phối hợp… bằng kết quả của những nghiên cứu mới [29; tr. Năm 1988 WHO đã sử dụng DSM- III làm tài liệu tham khảo để soạn thảo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi (ICD- 10). Năm 1992 ICD- 10 được WHO công bố và áp dụng chính thức trên toàn thế giới đến nay [68; tr.

Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10, 1992) thì lo âu có sự kết hợp chặt chẽ với các nguyên nhân tâm lý. Trong đó, lo âu được xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến Stress và dạng cơ thể [68; tr. 8 Đến năm 1994, Hội tâm thần học Mỹ đã đưa ra bảng phân loại DSM- IV, trong đó mỗi loại rối nhiễu tâm thần được khái niệm hóa như là một nhóm các triệu chứng bất thường về tâm lý hoặc những mẫu hành vi ứng xử bất thường đều có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Chúng xảy ra ở một cá nhân và liên quan đến các triệu chứng stress tiêu cực hoặc liên quan đến việc làm mất năng lực của cá nhân, tăng đáng kể sự nguy hiểm cho cá nhân thông qua việc phải chịu đựng những cảm giác tiêu cực như: ám ảnh về cái chết, sự đau khổ, sự mất năng lực, sự mất tự do của cá nhân.Bất kể điều gì là nguyên nhân của những triệu chứng thì sự rối nhiễu hiện có phải luôn được xem là sự biểu hiện của sự suy giảm, thoái lui về chức năng dưới góc độ tâm lý, sinh lý xảy ra ở các cá nhân [78; tr.

Hội tâm thần học Mỹ năm 2013 đã đưa ra bảng phân loại DSM- V, về cơ bản khái niệm về lo âu và các tiêu chí chẩn đoán giống như DSM- IV nhưng trong phiên bản DSM- V có đề cập thêm yếu tố văn hóa trong việc chẩn đoán các vấn đề về sức khỏe tâm thần [76; tr. Trong các công trình nghiên cứu về tình trạng lo âu ở trẻ em, phải kể đến công trình của M.Prior và cộng sự (1983- 2001) trên 2443 trẻ theo chiều dọc từ lúc trẻ mới sinh ra cho đến lúc 18 tuổi. Kết quả cho thấy 42% những em có tính cách hay xấu hổ, nhút nhát, thu mình trước 9 tuổi thường có lo âu vào giai đoạn 13- 14 tuổi. Warren và Huston cho rằng mối quan hệ gắn bó kéo dài và một yếu tố dự đoán quan trọng về trạng thái lo âu ở trẻ em [111].

Theo thống kê riêng ở Mỹ của dự án nghiên cứu National Comorbidity Survey trong năm 2004 (một dự án nghiên cứu về tỉ lệ các rối loạn tâm thần ở người Mỹ) thì 58% bệnh nhân được chẩn đoán trầm cảm có rối loạn lo âu, trong số đó 17,2% là rối loạn lo âu lan tỏa, 9,9% là rối loạn hoảng sợ. Bệnh nhân lo âu cũng có tỉ lệ cao bị trầm cảm ngoài ra 22,4% bệnh nhân mắc chứng ám sợ xã hội, 9,4% bệnh nhân ám sợ khoảng trống và 2,3% rối loạn hoảng sợ [88; tr. Về vấn đề tâm lý học trường học trên thế giới đã có rất nhiều nước quan tâm đến vấn đề này và họ đã xây dựng các mô hình tâm lý học trường học để có thể hỗ trợ cho học sinh, sinh viên trong môi trường học đường. Với một số các nước phát triển họ nhận định vấn đề tư vấn tâm lý học đường rất quan trọng với học sinh, sinh viên.

Theo các chuyên gia tâm lý học đường hay các nhà tâm lý học trường học – School Psychology là một chuyên ngành tâm lý ứng dụng dựa trên nền tảng của một số lĩnh lực như: tâm lý học phát triển, tâm lý học nhân cách, tâm lý học văn hóa, tham vấn học đường, tâm lý học lệch chuẩn, tâm lý học sức khỏe, khoa học chẩn 9 đoán tâm lý…nhằm phát hiện sớm, phòng ngừa và can thiệp cho trẻ em, thanh thiếu niên trong nhận thức, trong hành vi, trong cảm xúc ở môi trường học đường, gia đình và cộng đồng. Dưới đây là một số mô hình tâm lý học trường học trên thế giới. * Một số mô hình tâm lý học trường học trên thế giới - Thứ nhất: Mô hình của Spielberger (1966) [27] Mô hình của Spielberger (1966) quy định rằng tất cả mọi người đều được trải nghiệm một tình huống lo âu, theo đó sẽ có các cách diễn giải cá nhân về một tình huống được coi như là đe doạ về thể chất hoặc tâm lý hay một cách diễn giải khác cho tình huống này là hoàn toàn bình thường không có gì đáng bị đe dọa, nguy hiểm đối với bản thân họ. Tuy nhiên tất cả không phản ứng theo cùng một cách.

Một vài tình huống gây căng thẳng sẽ dẫn dắt cá nhân ước lượng nhận thức về tình huống (bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ và cảm xúc của họ) quyết định liệu tình huống đó có phải là mối đe dọa đối với người đó hay không. Với mô hình này, Spielberger đã tác động vào suy nghĩ, cảm xúc, đánh giá nhận thức của mỗi người vào các tình huống thực tế khác nhau trong cuộc sống để có thể giúp học sinh nhìn nhận đúng đắn vấn đề và không dẫn đến căng thẳng áp lực, đặc biệt trong bối cảnh học đường.1: Mô hình lo âu học đường của Spielberger (1966) 10 - Thứ hai: Mô hình trợ giúp học sinh có khó khăn ở Pháp [54].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tâm lý học lo âu học đường ở học sinh trung học tại TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng lo âu học đường trong giới học sinh trung học, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu chỉ ra rằng lo âu không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý mà còn tác động tiêu cực đến kết quả học tập và sự phát triển cá nhân của học sinh. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện và can thiệp kịp thời để hỗ trợ học sinh vượt qua những khó khăn này.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tâm lý học đường, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn tốt nghiệp thực trạng trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại trường trung học phổ thông việt nam ba lan thành phố hà nội, nơi nghiên cứu về tình trạng trầm cảm ở học sinh, hay Luận văn thạc sĩ tìm hiểu hiện tượng bị bắt nạt ở học sinh phổ thông, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố gây căng thẳng trong môi trường học đường. Ngoài ra, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học năng lực tâm lý và kết quả học tập cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về mối liên hệ giữa tâm lý và thành tích học tập. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề tâm lý trong học đường.