CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử nghiên cứu nhân cách Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như tâm lý học, xã hội học, triết học, giáo dục học, y học. Ngay trong ngành tâm lý học cũng có rất nhiều lý thuyết khác nhau nghiên cứu về nhân cách như lý thuyết Phân tâm của S. Preud, thuyết đặc điểm nhân cách của G.J Eysenck, Cattell, thuyết hiện tượng của C.
Rogers, thuyết nhu cầu tâm lý của H. Murray, thuyết cá nhân của R. Sears, thuyết nhân cách của các nhà tâm lý học xô viết như A. và nhiều lý thuyết khác nữa.
Mỗi lý thuyết đều đưa ra những định nghĩa và quan điểm khác nhau về nhân cách trên những góc độ nghiên cứu của mình. Định nghĩa về nhân cách là cái phản ánh những khía cạnh cần phải nghiên cứu trong lĩnh vực này cũng như những phương pháp được sử dụng để nghiên cứu nội dung của nó. Có những nghiên cứu đề cao quan điểm sinh học trong cách hiểu về nhân cách, coi yếu tố sinh học là cái quan trọng hơn cả cần nghiên cứu trong hệ thống nghiên cứu về nhân cách như bản năng vô thức của Freud, đặc điểm hình thể của Krestchmev, hay về thể trạng của Sheldon. Cũng có những lý thuyết khác lại đề cao quan điểm xã hội trong định nghĩa về nhân cách, cho rằng chỉ cần chú trọng đến những yếu tố xã hội là đủ để hiểu về nhân cách con người mà không tính đến vai trò của yếu tố sinh học như thuyết siêu đẳng và bù trừ của A.Adler, thuyết tương tác xã hội của G.Mead, thuyết liên nhân cách của R.Sears, thuyết hiện tượng của C.
Có những định nghĩa thực dụng hơn về nhân cách lại bắt nguồn từ thực tế cuộc sống là làm thế nào để hiểu con người nói chung quan điểm này đã đồng nhất khái niệm 7 z nhân cách và con người.Pervin – nhà tâm lý học Mác-xít xuất phát từ quan điểm cho rằng “nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội – lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội cụ thể chuyển vào thành đặc điểm nhân cách của từng người”. Các quan điểm về nhân cách 1. Lý thuyết chất dịch Trong suốt thời kỳ trung cổ, mô hình nhân cách con người phổ biến là lý thuyết chất dịch. Đây cũng là một trong những minh họa đầu tiên về thuyết quyết định sinh lý trong lý thuyết nhân cách, cho rằng nhân cách được định hình bởi yếu tố sinh lý.
Quan niệm vốn có trong lý thuyết này là cơ thể chứa đựng những chất dịch hay chất lỏng có nhiều nhất trong cơ thể như máu, đờm, dãi, mật đen, và mật vàng, và những chất này có ảnh hưởng nhiều tới nhân cách của con người. Nhân cách vui vẻ, hoạt bát, sinh động được cho rằng phần lớn ở người có tỉ lệ máu cao, còn những người có tỉ lệ mật vàng hay nước mắt cao hơn sẽ tạo ra tính cách nóng nảy, hấp tấp. Thuyết phân tâm Lý thuyết nhân cách theo phân tâm học bắt nguồn từ công trình của Sigmund Freud vào nửa sau thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhưng công trình của Freud được tiếp nối bằng nhiều công trình của nhiều nhà nghiên cứu khác. Freud tóm lược và mở rộng các quan điểm về ý thức, tiền ý thức và vô thức với các ý niệm của ông về ba thành phần của cấu trúc nhân cách: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi.
Theo Freud, nhân cách của cá nhân có liên quan chặt chẽ với quá trình của ý thức và libido. 8 z Cái nó: Là cái chứa đựng tất cả những năng lượng tinh thần. Hệ thống cái nó là toàn bộ cái vô thức và chức năng dựa trên cơ sở của quá trình nguyên thủy. Khi con người sinh ra, hệ thống cái nó cấu thành toàn bộ hệ thống năng lượng tâm lý của con người.
Cái tôi: Cái tôi là cái làm cho các ước muốn của cái nó phù hợp ý thức. Cái siêu tôi: Trong sự phối hợp các nhu cầu của cái nó với các điều kiện có giá trị trong môi trường bên ngoài, cái tôi cần phải đối phó với những đòi hỏi của thành tố thứ ba trong cấu trúc nhân cách của Freud là cái siêu tôi. Cái siêu tôi chứ đựng các chuẩn mực văn hóa, các giá trị xã hội và các chỉ trích phê phán. Cái siêu tôi là sự tiếp thu của cá nhân từ xã hội.
Mặc dù vậy, nặng lượng của cái siêu tôi cũng giống như tất cả các năng lượng tinh thần khác được tiếp thu từ cái nó và trở thành một bộ phận của cái tôi. Cái siêu tôi là phần trội hơn, chiếm ưu thế của hệ thống vô thức. Như vậy, cái siêu tôi được tạo thành thông qua các quy tắc nội tâm hóa và đã vượt ra khỏi phạm vi nhận thức nội tâm. Cái siêu tôi phát triển trên cơ sở thực hiện hành vi phù hợp với quy tắc xã hội.
Những quy tắc này được bố mẹ truyền đạt cho đứa trẻ thông qua những cơ chế hoạt động tinh vi của sự thưởng và phạt. Hành vi nào đứa trẻ được phép và hành vi nào không được phép thực hiện Thuyết nhân cách của Freud đã trình bày một tập hợp những định đề phức tạp và tinh vi, một số khác biệt với cách giải thích hành vi hàng ngày đến mức chúng khó có thể được chấp nhận. Khái niệm nhân cách của Freud được xây dựng trên sự trừu tượng không thể quan sát. Freud đã tuyệt đối hóa bản năng tình dục của con người, coi sự thỏa mãn tình dục là động lực của xã hội, giải thích mọi hiện tượng xã hội thông qua tình dục.
Lý thuyết của Karl Gustav Jung: Jung là nhà tâm lý học người Thụy sỹ, học trò của Freud nhưng do bất đồng quan điểm với Freud về ý nghĩa quan trọng của hoạt động tinh dục, đề xuất lý thuyết của riêng mình về nhân cách. Jung gợi ý là có một vô thức tập thể hình thành từ những động cơ nguyên thủy của loài người. Không giống như vô thức cá nhân của Freud, vô thức tập thể không phải là những cái đạt được bởi cá nhân. Vô thức tập thể ghi giữ lại các kinh nghiệm chung mà loài thức tập thể bẩm sinh và truyền qua các thế hệ từ hàng triệu năm qua.
Vô thức người đã có qua các thời đại. Jung thu nhỏ vai trò của vô thức cá thể vì lợi ích của vô tập thể chứa đựng nhất là các mẫu hình cổ sơ (những hình tượng ban sơ) thể hiện chủ yếu trong các giấc mộng đưa con người đến phản ứng đối với một số tình huống theo cung cách riêng cho tất cả mọi người thuộc các nền văn hóa. Jung đưa ra mô hình nhân cách như sau: Thế giới bên ngoài Nhân cách Ý thức Tôi Cá nhân- cái bản thân- vô thức Phần cá nhân Nó Trong tập thể Vô thức Nhân thức nguyên thủy- vô thức Vô thức tập thể 10 z Trong cấu trúc này, cái tôi là trung tâm của ý thức. Nhân cách là người mẹ của ý thức và vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân.
Cái bản thân nằm giữa ý thức và vô thức. Cái bản thân là sự tổng hợp cái bên trong và cái bên ngoài. Quan điểm của Jung về nhân cách còn gọi là lý luận nhân cách tầng sâu, xuất phát từ quan niệm vô thức được xác định bằng những sự kiện của hành vi. Đây là một khám phá mới về vô thức.
Song điều này chưa đủ để nói lên bộ mặt nhân cách con người. Nhân cách con người còn thể hiện ở những phẩm chất khác như năng lực, khí chất cũng như bộ mặt đạo đức trong nhân cách con người mà Jung chưa đi sâu nghiên cứu 1. Thuyết hành vi và hành vi xã hội Thuyết hành vi và hành vi xã hội bao gồm một nhóm các lý thuyết xem nhân cách phần lớn là kết quả của sự tập quen. Những lý thuyết này thay đổi từ thuyết kích thích - phản ứng theo thuyết hành vi, xem nhân cách đơn thuần là kết quả của vô số các lần biến đổi do điều kiện ngoại cảnh mà trẻ tiếp nhận qua đời sống, cho đến lý thuyết ý thức xã hội và hành vi xã hội phức tạp hơn, xem kinh nghiệm xã hội là yếu tố quan trọng quyết định nhân cách.
Watson là người sáng lập ra chủ nghĩa hành vi cho rằng, đầu hóc của đứa trẻ mới sinh ra là một tờ giấy trắng chờ kinh nghiệm viết lên. Watson khẳng định nhân cách là kết quả của những kinh nghiệm ấy. Ông cho rằng mọi đứa trẻ đều có thể trưởng thành với một nghề nghiệp bất kỳ miễn là đứa trẻ ấy có được môi trường kích thích phù hợp. Theo ông, nhân cách hình thành tổng số các liên tưởng kích thích - phản ứng được tập quen mà cá nhân phát triển qua sự tương tác với môi trường.F Skinner chấp nhận một cách tiếp cận nhân cách tương tự mặc dù cơ chế tập quen nền tảng mà ông nhận dạng có khác nhau chứ không phải là biến 11 z đổi do ngoại cảnh cổ điển xảy ra phần lớn thông qua sự liên tưởng kích thích- phản ứng lặp đi lặp lại.
Skinner xem việc tập quen phần lớn diễn ra thông qua luật kết quả nguyên lý cho rằng hành động có kết quả thú vị chắc chắn được lập đi lặp lại nhiều lần hơn. Nhân cách theo thuyết hành vi xã hội Albert Bandura cho rằng yếu tố xã hội trong việc hình thành nhân cách quan trọng hơn sự thừa nhận của Watson hay Skinner. Bandura nhận dạng học tập xã hội là một quá trình quyết định liên quan đến nhân cách. Theo ông, học tập xã hội bao gồm biến đổi ngoại cảnh cổ điển và thực nghiệm nhưng quan trọng hơn cũng bao gồm sự học tập của trẻ thông qua các quá trình đồng nhất và bắt chước.
Những quá trình này là hình thức học tập xã hội nhanh chóng giúp trẻ có được những đơn vị hành vi phức tạp, nhanh chóng và hiệu quả. Thuyết hiện tượng học và nhân văn Từ thập niên 1950 trở đi, các nhà tâm lý phát triển một loạt các tiếp cận nhân cách mới, những tiếp cận này nhấn mạnh rằng để tìm hiểu hành vi một người, điều cần thiết là phải tìm hiểu chính con người hiểu biết tình huống của mình ra sao. Tiếp cận này gọi là tiếp cận hiện tượng học. Theo cách suy nghĩ này con người chủ động tìm hiểu và nhận thức thế giới của riêng mình, kết luận, họ rút ra ảnh hưởng đến cách mà họ hành động ra sao.