Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Diễm My thuộc chuyên ngành Tâm lý học (Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh), thực hiện năm 2012 dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lý Minh Tiên. Đề tài tập trung giải quyết bài toán đổi mới phương pháp giảng dạy đại học thông qua công cụ trực quan hóa tư duy.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ khảo sát thực tiễn dạy học: từ trước đến nay, ba hình thức trình diễn nội dung bài học phổ biến được 95% người dạy và học ở mọi bậc học áp dụng là dùng câu tường thuật, liệt kê và sử dụng dàn ý. Theo các nghiên cứu của Tony Buzan, phương thức truyền thụ truyền thống này khiến người học chỉ sử dụng khoảng 50% khả năng xử lý của não bộ. Nhằm khai thác tối đa tiềm năng bán cầu não, Bản đồ tư duy (Mindmap) – công cụ ra đời từ thập niên 1960 với hơn 250 triệu người sử dụng trên thế giới – được xem là giải pháp khả thi giúp người học tóm tắt thông tin, tư duy mạch lạc và nâng cao khả năng ghi nhớ.

Trong chương trình đào tạo giáo viên, Tâm lý học đại cương (TLHĐC) là học phần bắt buộc, cung cấp tri thức cơ bản về con người – đối tượng giáo dục tương lai của sinh viên sư phạm. Việc lĩnh hội tốt học phần đòi hỏi sinh viên phải nắm vững, thông hiểu và vận dụng các khái niệm trừu tượng. Tác giả đặt ra vấn đề nghiên cứu: Giảng viên có thể ứng dụng Bản đồ tư duy (BĐTD) để nâng cao khả năng nhận thức bài học cho sinh viên các khoa không chuyên qua các giờ học trên lớp hay không?

Mục đích nghiên cứu tổng quát là ứng dụng BĐTD nhằm tăng cường khả năng nhận thức bài học học phần TLHĐC cho sinh viên một số khoa không chuyên Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Tác giả xác định 4 mục tiêu cụ thể:

  1. Thiết kế một số BĐTD trong các nội dung trọng tâm của học phần TLHĐC.
  2. Sử dụng các BĐTD đã thiết kế vào việc giảng dạy các nội dung trong học phần TLHĐC.
  3. Đối chiếu sự khác biệt giữa các nhóm học với BĐTD và nhóm không học với BĐTD.
  4. Đối chiếu sự khác biệt ở lớp học với BĐTD theo các biến số: giới tính, khối học.

Các giả thuyết khoa học được kiểm chứng bao gồm:

  • Giả thuyết 1: Nếu sinh viên một số khoa không chuyên Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh được học một số nội dung trong học phần TLHĐC có sử dụng BĐTD thì khả năng nhận thức các nội dung trên sau mỗi buổi học sẽ cao hơn các sinh viên không học với BĐTD.
  • Giả thuyết 2: Khối học và giới tính không ảnh hưởng đến khả năng nhận thức các nội dung trong mỗi bài học có sử dụng BĐTD của sinh viên.

Đối tượng nghiên cứu là việc ứng dụng BĐTD trong dạy học học phần TLHĐC cho sinh viên một số khoa không chuyên. Khách thể nghiên cứu là sinh viên năm thứ nhất thuộc một số khoa không chuyên Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Giới hạn nghiên cứu được khoanh vùng cụ thể:

  • Phạm vi nội dung: Thiết kế và ứng dụng BĐTD vào các nội dung trọng tâm của 4 bài: Cảm giác – Tri giác, Tư duy, Tưởng tượng, Trí nhớ.
  • Phạm vi khách thể: Thực nghiệm trên sinh viên năm thứ nhất thuộc 4 lớp: Toán 1A (khoa Toán), Vật lý 1A (khoa Vật lý), Địa lý 1B (khoa Địa lý) và Lịch sử 1B (khoa Lịch sử).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được cấu thành từ 4 nền tảng lý luận chính:

  • Lý thuyết về Bản đồ tư duy và Tư duy mở rộng (Radiant Thinking) của Tony Buzan: BĐTD là kỹ thuật hình họa kết hợp từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc hai bán cầu não và mạng lưới nơ-ron thần kinh. Vỏ não trái chịu trách nhiệm về từ ngữ, logic, chuỗi số, phân tích; vỏ não phải ưu trội về nhịp điệu, không gian, màu sắc, hình ảnh và tính toàn thể (gestalt). Cấu trúc phân nhánh lan tỏa từ trung tâm của BĐTD thỏa mãn khuynh hướng tự nhiên của não bộ là tìm kiếm mô hình và lấp đầy khoảng trống thông tin.
  • Phân loại mục tiêu nhận thức của Benjamin S. Bloom: Đề tài sử dụng 3 mức độ nhận thức đầu tiên trong thang 6 bậc của Bloom để thiết kế công cụ đo lường: Biết (nhận diện, nhớ lại tri thức bộ phận và các mối liên hệ), Thông hiểu (chuyển dịch, nội suy, ngoại suy bản chất bài học), Áp dụng (vận dụng quy luật, nguyên lý trừu tượng vào các tình huống thực tiễn cụ thể).
  • Lý luận hoạt động nhận thức theo quan điểm triết học duy vật biện chứng: Con đường nhận thức đi từ trực quan sinh động (nhận thức cảm tính gồm cảm giác, tri giác) qua quá trình lưu giữ của trí nhớ đến tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính gồm tư duy, tưởng tượng).
  • Nguyên tắc trực quan trong dạy học: Khái niệm trực quan theo GS.TSKH. Thái Duy Tuyên, nhấn mạnh việc huy động đa giác quan giúp người học nắm bắt bản chất hiện tượng nhanh chóng và nhớ bền vững.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu về sinh lý học thần kinh, lý thuyết BĐTD, tâm lý học đại cương và giáo dục học.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Bố trí 2 cặp lớp thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC) đại diện cho hai khối ngành Tự nhiên và Xã hội. Khả năng nhận thức ban đầu của hai nhóm được đo lường trước can thiệp. Giảng viên dạy lớp TN sử dụng bài giảng trình chiếu BĐTD qua phần mềm iMindMap; lớp ĐC được giảng dạy bằng các phương thức truyền thống (thuyết trình, dùng bảng, dàn ý), giữ nguyên tính đồng nhất về thời lượng, nội dung và giảng viên.
  • Phương pháp trắc nghiệm khách quan: Xây dựng 5 bài kiểm tra trắc nghiệm 15 phút, mỗi bài gồm 20 câu hỏi (trắc nghiệm 4 lựa chọn, đúng/sai, điền khuyết) bao quát 3 mức độ nhận thức Biết - Thông hiểu - Áp dụng theo thang Bloom.
  • Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu giảng viên dạy thực nghiệm và sinh viên lớp TN nhằm thu thập phản hồi về mức độ tiếp thu, tính mạch lạc và những thuận lợi, rào cản khi sử dụng BĐTD.
  • Phương pháp thống kê toán học: Nhập và phân tích dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS for Windows. Các kỹ thuật thống kê được sử dụng gồm: tính hệ số tin cậy bài test, độ khó, độ phân cách của từng câu hỏi; kiểm định so sánh giá trị trung bình ($t$-test); tính hệ số tương quan giữa các lần kiểm tra; so sánh kết quả nhận thức theo biến số giới tính và khối học.

Nguồn dữ liệu bao gồm kết quả bài làm trắc nghiệm của sinh viên 4 lớp thực nghiệm và đối chứng qua 5 bài test (thang điểm 20), cùng biên bản phỏng vấn trực tiếp giảng viên và sinh viên tham gia thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương này trình bày tổng quan lịch sử nghiên cứu BĐTD trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, Tony Buzan phát triển hệ thống lý thuyết BĐTD với hàng loạt tác phẩm được dịch sang tiếng Việt (Bản đồ tư duy - 10 cách đánh thức tư duy sáng tạo, Lập Bản đồ tư duy - Công cụ tư duy tối ưu, Sơ đồ tư duy...). Tại Việt Nam, BĐTD đã được ứng dụng trong dạy học Ngữ văn (Hoàng Đức Huy), Hóa học (luận án tiến sĩ của Bùi Phương Thanh Huấn), Vật lý (Võ Hoàng Nhật), chuyên ngành Cơ khí (Đỗ Quang Huy) và Tâm lý học sáng tạo (TS. Huỳnh Văn Sơn).

Tác giả phân tích các định nghĩa BĐTD từ góc độ Bách khoa toàn thư, tài liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Trần Đình Châu, Đặng Thu Thủy) và quan điểm gốc của Tony Buzan. Từ đó, luận văn đề xuất định nghĩa chuyên biệt cho dạy học: BĐTD là hình thức trình diễn nội dung bài học bằng kỹ thuật hình họa, kết hợp từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động của não bộ, giúp người học nhớ, hiểu và vận dụng tri thức hiệu quả.

Về mặt kỹ thuật, chương 1 hệ thống hóa các nguyên tắc lập BĐTD của Tony Buzan:

  • Nhóm quy tắc kỹ thuật: Nhấn mạnh (sử dụng hình ảnh trung tâm, hình ảnh trực quan trên các nhánh, kích thước phân cấp, khoảng cách thích hợp); Liên kết (mũi tên chỉ hướng, mã màu sắc phân nhánh, ký hiệu biểu trưng); Mạch lạc (mỗi dòng một từ khóa, viết chữ in hoa trên nhánh liên kết, nhánh chính nối liền hình ảnh trung tâm bằng nét đậm).
  • Nhóm quy tắc bố trí: Trình tự phân cấp (từ ý chủ đạo ở trung tâm lan tỏa ra nhánh cấp 1, nhánh cấp 2, nhánh cấp 3) và trình tự đánh số thứ tự ưu tiên.
  • Bốn bước thực hiện: (1) Vẽ chủ đề ở trung tâm; (2) Vẽ các tiêu đề nhánh chính; (3) Vẽ nhánh phụ, ý chi tiết và từ khóa; (4) Bổ sung hình ảnh minh họa sinh động.

Chương này cũng phân tích quy trình vận hành phần mềm iMindMap 5, khả năng xuất bài giảng sang PowerPoint phục vụ hiệu ứng xuất hiện tuần tự, đồng thời xác lập mục tiêu nhận thức (theo 3 mức độ của Bloom) cho 4 bài học TLHĐC được đưa vào thực nghiệm sư phạm: Cảm giác – Tri giác, Tư duy, Tưởng tượng và Trí nhớ.

Chương 2: Mô thức nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức thực nghiệm, các công cụ thu thập dữ liệu và kỹ thuật kiểm soát sai số thực nghiệm. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn từ sinh viên năm thứ nhất thuộc 4 khoa, chia thành 2 cặp thực nghiệm – đối chứng:

Khối ngành Cặp lớp Lớp nghiên cứu Giảng viên giảng dạy
Khoa học Tự nhiên Cặp 1 Toán 1A (Thực nghiệm) - Vật lý 1A (Đối chứng) ThS. Nguyễn Thị Uyên Thy
Khoa học Xã hội Cặp 2 Địa lý 1B (Thực nghiệm) - Lịch sử 1B (Đối chứng) ThS. Đào Thị Duy Duyên

Tác giả đã trực tiếp thiết kế 11 BĐTD bằng phần mềm iMindMap 5 để phục vụ giảng dạy thực nghiệm:

  • Bài Cảm giác – Tri giác (3 BĐTD): Hình 2.1 (Hoạt động nhận thức với biểu tượng màu đỏ, hoa hồng đỏ, bóng đèn, đầu người); Hình 2.2 (Khái niệm và đặc điểm Cảm giác - 5 nhánh chính); Hình 2.3 (Khái niệm và đặc điểm Tri giác - 5 nhánh chính).
  • Bài Tư duy (2 BĐTD): Hình 2.4 (Khái niệm Tư duy - 3 nhánh chính: quá trình tâm lý, thuộc tính bản chất, quan hệ chưa biết); Hình 2.5 (Các đặc điểm của Tư duy - 5 nhánh chính: tính có vấn đề, tính khái quát, quan hệ với nhận thức cảm tính, quan hệ với ngôn ngữ, tính chất xã hội).
  • Bài Tưởng tượng (2 BĐTD): Hình 2.6 (Khái niệm Tưởng tượng - 4 nhánh chính); Hình 2.7 (Các cách sáng tạo hình ảnh mới trong Tưởng tượng - 6 nhánh: thay đổi kích thước/số lượng/thành phần, nhấn mạnh, chắp ghép, liên hợp, điển hình hóa, loại suy).
  • Bài Trí nhớ (4 BĐTD): Hình 2.8 (3 quá trình cơ bản của Trí nhớ: ghi nhớ, tái hiện, sự quên); Hình 2.9 (Quá trình ghi nhớ - 2 nhánh chính); Hình 2.10 (Quá trình tái hiện - 2 nhánh chính); Hình 2.11 (Quá trình quên - 2 nhánh chính).

Công cụ đánh giá gồm 5 bài test trắc nghiệm 15 phút (20 câu/bài, thang điểm 20):

  • Test 1 (bài "Ý thức"): Dùng để đánh giá trình độ nhận thức đầu vào của các lớp trước khi tiến hành thực nghiệm tác động.
  • Test 2 (bài "Cảm giác - Tri giác"), Test 3 (bài "Tư duy"), Test 4 (bài "Tưởng tượng"), Test 5 (bài "Trí nhớ"): Đánh giá sau từng buổi học thực nghiệm.

Để kiểm soát biến số ngoại lai, tác giả tuân thủ 5 nguyên tắc nghiêm ngặt: cùng một giảng viên dạy cả lớp TN và ĐC trong từng cặp; đo lường kiểm tra sự tương đồng trình độ nhận thức trước can thiệp; đồng nhất hoàn toàn các điều kiện giảng dạy (thời lượng, hệ thống bài tập, giáo trình), chỉ tạo biến thiên duy nhất là sử dụng BĐTD cho nhóm TN; tiến hành kiểm tra ngay sau bài học trong 15 phút; xây dựng bản hướng dẫn chi tiết quy trình sử dụng từng BĐTD cho giảng viên dạy thực nghiệm.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng từ dữ liệu thực nghiệm và kết quả phỏng vấn định tính:

  • Phân tích chỉ số kỹ thuật của 5 bài test: Thể hiện qua hệ số tin cậy của bài kiểm tra, độ khó trung bình và chỉ số phân cách của từng câu hỏi trắc nghiệm (được tính toán cụ thể tại Phụ lục 3), đảm bảo bài kiểm tra phân loại chính xác các mức độ nhận thức.
  • Đánh giá nhận thức ban đầu (bài "Ý thức"): Kết quả so sánh điểm trung bình giữa Toán 1A với Vật lý 1A, giữa Địa lý 1B với Lịch sử 1B cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$). Điều này chứng minh năng lực nhận thức khởi điểm của các cặp lớp là tương đương nhau trước can thiệp.
  • Khả năng nhận thức qua 4 bài thực nghiệm: Điểm số trung bình qua các bài kiểm tra "Cảm giác - Tri giác", "Tư duy", "Tưởng tượng", "Trí nhớ" của các lớp thực nghiệm (Toán 1A, Địa lý 1B) đều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các lớp đối chứng (Vật lý 1A, Lịch sử 1B). Sinh viên học với BĐTD làm tốt hơn ở các câu hỏi mức độ Thông hiểu và Áp dụng.
  • Tính ổn định trong nhận thức: Phân tích tương quan điểm số giữa 5 bài test ở nhóm TN cho thấy mối tương quan thuận và tính ổn định cao trong quá trình tích lũy kiến thức, không xuất hiện sự biến động ngẫu nhiên.
  • Ảnh hưởng của giới tính và khối học: Khi so sánh điểm trung bình giữa sinh viên nam và nữ, cũng như giữa khối Tự nhiên (Toán 1A) và khối Xã hội (Địa lý 1B) trong nhóm thực nghiệm, sai khác không có ý nghĩa thống kê. Kết quả khẳng định hiệu quả tiếp thu thông qua BĐTD mang tính phổ quát, không bị chi phối bởi giới tính hay đặc thù khối ngành.
  • Kết quả phỏng vấn: Giảng viên dạy thực nghiệm đánh giá việc sử dụng BĐTD thiết kế qua iMindMap 5 giúp bài giảng trực quan, thể hiện rõ tính logic phân cấp của khái niệm và tăng hứng thú học tập cho sinh viên. Sinh viên lớp thực nghiệm phản hồi rằng BĐTD giúp việc ghi nhớ từ khóa dễ dàng hơn, các liên kết màu sắc và hình ảnh hỗ trợ đắc lực cho việc ôn tập và liên hệ thực tế.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp cụ thể về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn giảng dạy đại học:

Về mặt học thuật và thực nghiệm, đề tài đã kiểm chứng thành công hai giả thuyết nghiên cứu bằng công cụ thống kê toán học. Nhận thức của sinh viên các lớp thực nghiệm được chứng minh là vượt trội hơn nhóm đối chứng qua 4 bài học liên tiếp trong học phần Tâm lý học đại cương. Hiệu quả của BĐTD tác động đồng đều trên cả hai nhóm đối tượng sinh viên khoa học tự nhiên và sinh viên khoa học xã hội, không có sự khác biệt theo giới tính.

Về mặt đóng góp cụ thể:

  • Thiết kế hoàn chỉnh hệ thống 11 BĐTD chuẩn hóa về mặt hình thức và nội dung cho các chủ đề cốt lõi của học phần TLHĐC (Cảm giác - Tri giác, Tư duy, Tưởng tượng, Trí nhớ) dựa trên phần mềm iMindMap 5, có thể tích hợp trực tiếp vào bài giảng trình chiếu.
  • Đóng góp và bổ sung vào ngân hàng câu hỏi đo lường đánh giá học phần TLHĐC 100 câu hỏi trắc nghiệm khách quan (chia đều trong 5 bài test), được phân tích độ giá trị, độ tin cậy, độ khó và độ phân cách theo 3 mức độ nhận thức của thang Bloom.
  • Xây dựng bản hướng dẫn sư phạm chi tiết dành cho giảng viên về cách thức kết hợp BĐTD trong tiến trình dạy học trên lớp nhằm kiểm soát tối đa các biến số phương pháp.

Các kiến nghị sư phạm của tác giả:

  • Đối với Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh: Cần trang bị đồng bộ cơ sở vật chất (máy chiếu, màn chiếu, máy tính) tại các phòng học; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho giảng viên kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng các phần mềm vẽ BĐTD như iMindMap trong thiết kế bài giảng.
  • Đối với giảng viên dạy học phần TLHĐC cho các khoa không chuyên: Cần chủ động chuyển đổi từ phương thức trình bày văn bản đơn thuần sang kết hợp BĐTD; sử dụng BĐTD linh hoạt ở các khâu giới thiệu bài mới, tổng kết bài học hoặc hướng dẫn sinh viên tự học, tự ghi chép và làm tiểu luận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận xác định rõ những giới hạn nghiên cứu xuất phát từ phạm vi thực hiện:

  • Hạn chế về nội dung: Đề tài mới chỉ thiết kế và đưa vào thực nghiệm BĐTD ở một số nội dung trọng tâm thuộc 4 bài học cụ thể (Cảm giác – Tri giác, Tư duy, Tưởng tượng, Trí nhớ), chưa thể bao quát toàn bộ các chương mục khác của chương trình Tâm lý học đại cương.
  • Hạn chế về khách thể: Địa bàn thực nghiệm chỉ triển khai trên phạm vi hẹp tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, giới hạn ở 4 lớp sinh viên năm thứ nhất thuộc 4 khoa (Toán, Vật lý, Địa lý, Lịch sử).

Hướng nghiên cứu mở rộng được tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục nghiên cứu, thiết kế trọn bộ hệ thống BĐTD cho toàn bộ học trình học phần Tâm lý học đại cương.
  • Mở rộng phạm vi thực nghiệm sư phạm sang các khoa không chuyên khác trong trường và các trường đại học, cao đẳng sư phạm khác.
  • Nghiên cứu hướng dẫn sinh viên tự thiết kế BĐTD trong học nhóm, tự học và làm bài tập học phần, thay vì chỉ tiếp nhận thụ động BĐTD do giảng viên trình chiếu.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng trong môi trường giáo dục đại học:

  • Giảng viên bộ môn Tâm lý học: Có thể trực tiếp sử dụng 11 mẫu BĐTD trong luận văn để phục vụ giảng dạy 4 bài học trọng tâm của học phần Tâm lý học đại cương, hoặc dùng làm tài liệu mẫu để xây dựng BĐTD cho các chương còn lại.
  • Sinh viên các trường đại học sư phạm: Đặc biệt là sinh viên các khoa không chuyên, có thể tham khảo phương pháp mã hóa kiến thức bằng từ khóa, màu sắc và hình ảnh để cải thiện kỹ năng tự học, ghi chép bài giảng và ôn tập thi cử.
  • Cán bộ nghiên cứu phương pháp dạy học và đo lường giáo dục: Có thể tham khảo quy trình thực nghiệm sư phạm kiểm soát biến số chặt chẽ, cùng phương pháp biên soạn và thẩm định 100 câu hỏi trắc nghiệm theo 3 mức độ nhận thức của Bloom xử lý qua SPSS.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận triển khai thực nghiệm sư phạm trên những cặp lớp và giảng viên cụ thể nào?
Nghiên cứu tiến hành trên 2 cặp lớp đối chứng - thực nghiệm thuộc sinh viên năm thứ nhất: cặp 1 gồm lớp Toán 1A (thực nghiệm) và lớp Vật lý 1A (đối chứng) do ThS. Nguyễn Thị Uyên Thy giảng dạy; cặp 2 gồm lớp Địa lý 1B (thực nghiệm) và lớp Lịch sử 1B (đối chứng) do ThS. Đào Thị Duy Duyên giảng dạy.

2. Tác giả đã thiết kế bao nhiêu Bản đồ tư duy và phân bổ cho những bài học nào?
Tác giả đã sử dụng phần mềm iMindMap 5 để thiết kế tổng cộng 11 BĐTD cho 4 bài học trọng tâm: 3 BĐTD cho bài "Cảm giác - Tri giác", 2 BĐTD cho bài "Tư duy", 2 BĐTD cho bài "Tưởng tượng" và 4 BĐTD cho bài "Trí nhớ".

3. Công cụ kiểm tra đánh giá khả năng nhận thức của sinh viên được xây dựng theo tiêu chuẩn nào?
Công cụ đánh giá gồm 5 bài test trắc nghiệm 15 phút (mỗi bài 20 câu, thang điểm 20, gồm dạng 4 lựa chọn, đúng/sai, điền khuyết). Hệ thống câu hỏi được biên soạn theo 3 mức độ nhận thức đầu tiên trong thang 6 bậc của Benjamin S. Bloom: Biết, Thông hiểu và Áp dụng.

4. Tác giả đã kiểm soát các biến số ngoại lai trong thực nghiệm sư phạm bằng những nguyên tắc nào?
Nghiên cứu áp dụng 5 nguyên tắc: bảo đảm cùng một giảng viên dạy cả hai lớp trong từng cặp; đo nghiệm trình độ đầu vào bằng bài test "Ý thức" để đảm bảo tính tương đương; giữ nguyên mọi điều kiện giảng dạy giữa nhóm TN và ĐC (chỉ khác ở việc nhóm TN chiếu BĐTD); kiểm tra 15 phút sau mỗi bài học; cung cấp tài liệu hướng dẫn giảng dạy chi tiết cho giảng viên thực nghiệm.

5. Cơ chế sinh lý học thần kinh nào được dùng để chứng minh tính ưu việt của Bản đồ tư duy?
Tác giả dựa trên lý thuyết của Tony Buzan về sự tương hợp giữa BĐTD và hoạt động của não bộ: khả năng kích hoạt đồng thời hai bán cầu não (não trái xử lý từ ngữ, logic; não phải xử lý hình ảnh, màu sắc, gestalt); cơ chế dẫn truyền xung thần kinh nhanh chóng qua synap đến thân nơ-ron khi tiếp nhận gói thông tin trực quan đã phân nhánh; xu hướng tự nhiên của não bộ trong việc bổ sung vào chỗ khuyết để hình thành bức tranh toàn thể.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Diễm My đã giải quyết thỏa đáng vấn đề ứng dụng Bản đồ tư duy trong giảng dạy học phần Tâm lý học đại cương cho sinh viên không chuyên Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Thông qua quy trình thực nghiệm sư phạm chặt chẽ với 11 Bản đồ tư duy và 100 câu hỏi trắc nghiệm chuẩn hóa, đề tài đã chứng minh việc sử dụng Bản đồ tư duy nâng cao rõ rệt khả năng nhận thức bài học của người học. Đóng góp của luận văn thể hiện cả ở hệ thống tư liệu giảng dạy thực tế lẫn mô thức nghiên cứu định lượng mẫu mực trong lĩnh vực tâm lý - sư phạm.