CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Hoạt động và quá trình tự học 1. Hoạt động học và bản chất của hoạt động học Hoạt động là một khái niệm của tâm lý học hiện đại.
Một hoạt động bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định. Hai hoạt động khác nhau được phân biệt bởi hai đối tượng khác nhau và đối tượng là động cơ thực sự của hoạt động. Về phía đối tượng: Động cơ được thể hiện thành các nhu cầu. Các nhu cầu đó được sinh ra từ một đối tượng ban đầu còn trừu tượng, ngày càng phát triển rõ ràng, cụ thể hơn và được chốt lại ở hệ thống các mục đích.
Mỗi mục đích, lại phải thoả mãn một loạt các điều kiện (hay còn gọi các phương tiện). Mối quan hệ biện chứng giữa mục đích và điều kiện được coi là nhiệm vụ. Về phía chủ thể: Chủ thể dùng sức căng cơ bắp, thần kinh, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn, để thỏa mãn động cơ gọi là hoạt động. Quá trình chiếm lĩnh từng mục đích gọi là hành động.
Mỗi điều kiện để đạt từng mục đích, lại quy định cách thức hành động gọi là thao tác. Những điều mô tả trên chính là quan điểm của A.N Lêônchiev được biểu diễn bởi sơ đồ sau: Phía đối tượng Phía chủ thể Động cơ Hoạt động Mục đích Hành động Điều kiện (Phương tiện) Thao tác Sơ đồ 1.1: Cấu trúc vĩ mô của hoạt động Luan van 8 Quá trình dạy học là quá trình thống nhất, biện chứng giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, trong đó hoạt động học là trung tâm. Một số khía cạnh cơ bản của hoạt động học tập: - Về cấu trúc hoạt động: + Động cơ: Nắm lấy tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hoặc tự hoàn thiện bản thân. + Mục đích: HS phải vượt ra khỏi giới hạn những kiến thức đã có để đạt tới những cái mà các em chưa có.
Vì thế nhiệm vụ học tập thường được đề ra dưới hình thức “bài toán” có vấn đề. + HS giải quyết các nhiệm vụ của mình nhờ vào các hành động học tập cụ thể như: tách các vấn đề từ nhiệm vụ; vạch phương hướng giải quyết trên cơ sở phân tích các mối quan hệ trong tài liệu học tập; mô hình hóa, cụ thể hóa các mối quan hệ đó; kiểm tra tiến trình và kết quả học tập. + Các hành động trên được thực hiện bởi các thao tác tư duy đặc trưng như phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, suy luận lôgic,. Tuy nhiên toàn bộ quá trình này không tự diễn ra mà đòi hỏi phải có điều kiện là sự kích thích nhất định trong các giai đoạn: phát hiện vấn đề; nhận thấy có mâu thuẫn, hình thành động cơ, tìm tòi và khái quát hóa,.
- Về hình thức: Hoạt động học điển hình có thể diễn ra trong thời gian trên lớp, khi GV thực hiện vai trò chỉ đạo, hướng dẫn hoặc trong khi hoạt động độc lập trên lớp và cả khi làm bài tập ở nhà. Hoạt động học có mối quan hệ khắn khít, chặt chẽ với hoạt động dạy, trình tự các bước trong hoạt động học hoàn toàn thống nhất với trình tự các bước trong hoạt động dạy. Nếu GV vạch ra các nhiệm vụ, hành động học tập sắp tới của HS bằng các biện pháp thích hợp và kích thích chúng thì HS sẽ tiếp nhận các nhiệm vụ đó, thực hiện các hành động học tập đề ra; nếu GV kiểm tra hành Luan van 9 động của HS và điều chỉnh hành động dạy của mình thì HS cũng điều chỉnh hành động học của mình,. + Ý thức được vấn đề (vạch được nội dung, có biểu tượng chung nhất về sự kiện, nắm được quá trình hình thành và phát triển của sự kiện đó).
+ Nắm được vấn đề (vạch được bản chất bên trong của các hiện tượng). + Sáng tỏ vấn đề (biết cách tìm ra lối thoát khi gặp khó khăn). - Về cơ chế của hoạt động học tập: Tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều khá thống nhất với quan điểm của Piaget [14], đó là coi học tập là một quá trình kép: + Thứ nhất, là quá trình tiếp nhận, đó là sự tiếp thu các thông tin từ môi trường xung quanh và việc xử lý các thông tin mới đó với các cấu trúc nhận thức đã đạt được từ trước. + Thứ hai, là quá trình thích nghi, đó là sự thích ứng và biến đổi các cấu trúc nhận thức đã có đối với các tác động của các thông tin từ môi trường nhằm làm cho cấu trúc nhận thức này tiến triển.
Trong quá trình này, mọi thao tác của con người đều nhằm thực hiện đồng hoá và điều ứng. Tiếp cận từ góc độ lý luận dạy học: Bản chất của hoạt động học là một quá trình nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo. Đó là một quá trình nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Trong quá trình đó, HS phải tích cực vận dụng các thao tác tư duy để lĩnh hội tài liệu, ghi nhớ kiến thức, luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ôn tập, khái quát hoá, hệ thống hoá tài liệu, tự kiểm tra đánh giá,.
Quá trình tự học 1. Tự học * Các quan điểm về tự học Quan điểm về tự học đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra một số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau. Luan van 10 Nguyễn Cảnh Toàn quan niệm: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó” [20, tr. Như vậy theo tác giả, tự học bao gồm nhiều thao tác, hành động tích cực, tự chủ và có ý thức cao của bản thân người học, tự học là hoạt động diễn ra ngoài giờ lên lớp và không có sự giáp mặt giữa thầy và trò.
Thái Duy Tuyên quan niệm: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học” [24]. Ở đây tác giả lại nhìn nhận tự học dưới góc độ nhận thức của người học, người học hoàn toàn độc lập để có thể chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và cả kinh nghiệm lịch sử của xã hội. Theo Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [4, tr.
Tác giả trong quan điểm này lại coi tự học như là một biện pháp, cách thức để chiếm lĩnh tri thức. Nguyễn Ngọc Bảo quan niệm: “Tự học là việc người học có thể tự mình tìm ra kiến thức, khai thác kiến thức bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự tổ chức hoạt động học, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học của mình” [3].Với quan điểm này tác giả coi tự học là một hoạt động hoàn toàn độc lập của bản thân người học, người học tự quyết định cách thức, phương pháp học mà không cần đến sự giúp đỡ, điều khiển của GV. Lưu Xuân Mới quan niệm: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân tiến Luan van 11 hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định. Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở ĐH có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học” [13].
Theo tác giả, tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản, có tính độc lập cao và mang đậm màu sắc cá nhân, nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học. “Tự học có thể quan niệm như là một phương pháp dạy học bởi nó liên quan trực tiếp tới cách thức giảng dạy của GV và cách thức học tập của trò. Hiệu quả của hoạt động tự học phụ thuộc không nhỏ vào phương pháp dạy học của GV” [23, tr.Sharma cho rằng: “Một phương pháp dạy học hiệu quả, giúp cá nhân lĩnh hội được những tri thức và kỹ năng khác nhau một cách thỏa đáng gọi là phương pháp tự học” [16]. Ở đây tác giả lại nhìn nhận tự học như là một phương pháp dạy học diễn ra dưới sự hướng dẫn, tổ chức của người GV trong quá trình dạy học.
Sự khác biệt về quan niệm tự học nêu trên của các tác giả là do các góc độ nghiên cứu khác nhau về tự học. Có tác giả nghiên cứu tự học là một hoạt động hoàn toàn độc lập, không có sự giúp đỡ của GV. Có tác giả lại nghiên cứu sự tự học là hoạt động trong mối quan hệ thống nhất với hoạt động dạy. Các tác giả tuy có những lập luận khác nhau trong quan niệm tự học, nhưng đều có điểm chung khi nói về tự học.
Đó là hình thức hoạt động nhận thức độc lập, tích cực, tự giác ở mức độ cao; tự học là quá trình mà trong đó chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ, chân tay, nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê của cá nhân; tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, một kết luận khác; tự học là tự mình tìm ra tri thức, tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình thông qua các Luan van 12 hành động cụ thể và bằng vốn tri thức sẵn có, lòng ham học hỏi, ý chí quyết tâm của bản thân để đạt được mục đích nhất định. Tóm lại theo chúng tôi “Tự học là hình thức học tập mang đậm màu sắc cá nhân, tự học là tự mình quyết định ý thức trách nhiệm đối với việc học, tự lựa chọn mục tiêu, nội dung, các phương pháp học, tự tổ chức, xây dựng tiến trình học tập và tự kiểm tra, nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và cả kinh nghiệm lịch sử của nhân loại.