Chương 1: Cơ sở lí luận Chương 2: Cơ sở thực tiễn Chương 3: Khai thác phan mềm GeoGebra dé thiết kế các tình huống dạy học chủ đề tam giác lớp 7 Chương 4: Thực nghiệm sư phạm. Vấn đề đối mới PPDH môn Toán ở trường THCS 1. Nhu cầu đổi mới PPDH môn Toán ở trường THCS PPDH là những kỹ thuật mà người GV có thể sử dụng đề tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giảng dạy và giúp HS cảm thấy hào hứng với quá trình học tập. PPDH là cơ hội dé làm cho việc học trở nên hấp dẫn, truyền cảm hứng và niềm vui cho HS.
Nó hỗ trợ GV hoàn thành trách nhiệm hướng dẫn sự phát triển về mặt xã hội và cảm xúc của HS. Bằng cách sử dụng các chiến lược phù hợp, GV có thé thấm nhuan các giá trị tôn trong, đồng cảm về văn hóa vào lớp học của mình. PPDH giúp HS nam vững nội dung bài học, tim hiểu cách áp dụng nội dung trong các bối cảnh cụ thể. Người GV nên xác định PPDH nao sẽ hỗ trợ phù hợp cho kết quả học tập cụ thể.
Việc lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp giúp bài giảng trở nên sống động, đồng thời khuyến khích HS tham gia tích cực vào nội dung bài học và phát triển kiến thức cũng như kỹ năng của mình. Vấn đề hiện nay về toán học ở nước ta đang phải đối mặt là nhu cầu nâng cao hiệu quả học tập môn toán của HS. Toán học được hầu hết mọi người thừa nhận sự cần thiết và hữu ích của nó. Tính hữu dụng bao gồm từ xã hội, thẩm mỹ, tiện ich, giao tiếp.
Toán học đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp phương tiện dé nghiên cứu các van đề khác như các ngành khoa học, công nghệ. Dạy học trên lớp là một công việc mà người ngoài ngành nghĩ đó chỉ là một công việc đơn giản. GV chỉ cần dành thời gian giảng dạy các tiết học trên lớp. Nhưng vượt trên điều đó, GV còn là người quản lí, nhà tâm lí học, cố vấn, chưa kể còn đem lại niềm vui cho học trò.
Cho nên, đổi mới PPDH phải thiết thực, phù hợp với điều kiện học tập của người học, phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo dé người học có thể vận dụng kiến thức môn học dé làm bài tập và áp dụng thực tế. Tác giả Nguyễn Bá Kim [4] khi phân tích về nhu cầu đổi mới PPDH có viết: “PPDH ở nước ta còn có những nhược điểm phô biến: - Thay thuyết trình tran lan; - Kiến thức được truyền thụ dưới dạng có sẵn, ít yếu tố tìm tòi, phát hiện; - Thay áp đặt, trò thụ động; - Thiên về dạy, yếu về học, thiếu hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo của người học; - Không kiểm soát được việc học”. Chính vì vậy, đôi mới PPDH là nhu cầu cấp thiết, cần được tiến hành mọi lúc, moi noi. Định hướng đổi mới PPDH môn Toán ở trường THCS Định hướng đôi mới PPDH cũng đã được đề ra và thực hiện trong nhiều chỉ thị của Bộ giáo dục và Đảo tạo, trong đó có chỉ thị số 1112/CT-BGDĐT năm 2022 yêu cau: “Tang cường chuyền đổi số và ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo; tang cường các điều kiện đảm bảo về hạ tầng kỹ thuật và kỹ năng ứng dụng CNTT trong day - học trực tuyến và trong công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục”.
Tiến hành đổi mới phương pháp dạy học cần có những chú ý: - Căn cứ vào quá trình nhận thức, hoạt động nhận thức và phong cách học tập khác nhau của mỗi HS, tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo để người hoc phát huy tinh chủ động, độc lập, phát triển các kỹ năng tong quát và toán học, tạo điều kiện hỗ trợ. - HD giảng dạy trên lớp nên đan xen các hoạt động trải nghiệm thực tế. Hơn nữa, cần thúc đây việc sử dụng các phương tiện công nghệ, nghe nhìn hiện đại để hỗ trợ quá trình giáo dục, đồng thời nhắn mạnh việc sử dụng các phương tiện truyền thống. - Sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học theo tiến trình tô chức cho HS hoạt động trải nghiệm, khám phá, phát triển, thực hành.
Bên cạnh đó, tổ chức cho HS được tham gia một số hoạt động thực hành ứng dụng các kiến thức toán học vào thực tiễn và các hoạt động ngoài giờ chính khóa liên quan đến ôn tập, củng cố các yêu tô cơ bản. Các tình huống dién hình trong dạy học toán học 1. Dạy học khái niệm toán học 1.1 Vi trí và yêu cau Ở môn Toán, việc hoc về các khái niệm Toán học chiếm vi tri hàng đầu. Điều quan trọng nhất khi dạy học Toán là phải phát triển hệ thống khái niệm vững chắc cho HS.
HS thường gặp khó khăn với các khái niệm trừu tượng trong toán học, khiến GV phải tiếp tục nỗ lực tìm cách dạy những khái niệm đó. Trong quá trình dạy các khái niệm toán ở trường trung học phổ thông, cần giúp HS dần dần đáp ứng được các yêu cầu: Hình 1.1 Các yêu cầu day học khái niệm Nắm vững đặc điểm khái niệm đặc trưng Biết nhận dạng khái niệm Biết phát biểu rõ ràng, chính xác Ap dụng vào tình huống cụ thé Nắm được mối quan hệ giữa các khái niệm 1. Các trình tự dạy học khái niệm Sơ đô 1.1 Các trình tự dạy học khái niệm Trình tự trong dạy học khái niệm bao gồm các hoạt động: - Tiép can khai niém: Qua cac vi du thuc tẾ, qua HĐ học tập của HS bằng cách khéo léo đưa ra các ví dụ sao cho các dấu hiệu không bản chất có thê thay đổi, nhưng dấu hiệu bản chất vẫn giữ nguyên, từ đó HS rút ra được dấu hiệu đặc trưng (nội hàm) định nghĩa khái niệm. - Định nghĩa khái niệm: Phát biểu định nghĩa, khái nệm một cách trọn vẹn, chính xác.
- Củng cô khái niệm bao gồm: nhận dang và thé hiện khái niệm; hoạt động ngôn ngữ; vận dụng giải toán; đặc biệt hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa. Các con đường hình thành khải niệm: - Con đường hình thành khái niệm đầu tiên đó chính là con đường quy nạp. Đi theo con đường này, bắt đầu từ một loạt các trường hợp cụ thể (mô hình, hình vẽ, ví dụ cụ thể), HS có thể khám phá kiến thức thông qua sự trừu tượng hóa và khái quát hóa. Các đặc điểm của một thuật ngữ trong một trường hợp cụ thé tạo thành cơ sở cho định nghĩa của nó.
Cần phải chọn số lượng hình anh cụ thé thích hợp trong đó các dấu hiệu đặc trưng được giữ nguyên, trong khi các thuộc tính khác của đối tượng thay đổi. Quá trình hình thành các khái niệm băng phương pháp quy nạp liên quan đến khả năng phát triển các kỹ năng trí tuệ như trừu tượng hóa, khái quát hóa và so sánh. - Hình thành các khái niệm thông qua suy luận là cách thứ hai để hình thành khái niệm. Từ một định nghĩa khái niệm đã biết, thêm vào nội hàm của nó một số dấu hiệu mà ta quan tâm, từ đó ta được một khái niệm mới.
Sau khi đưa ra định nghĩa như vậy, GV cần đưa ra những ví dụ cụ thể để chứng minh rằng thuật ngữ được định nghĩa như vậy thực sự ton tại trong thực tế. - Hình thành khái niệm bằng con đường kiến thiết chính là con đường thứ ba. Trong khi con đường quy nạp và suy diễn được trình bày nhiều sách báo, tài liệu về tâm lí học và giáo dục học thì con đường kiến thiết mới chỉ được đề cập trong những bài giảng của Pietzach: “Con đường này mang cả những yếu tô quy nạp lẫn suy diễn”.4 Những hoạt động củng cố khái niệm Sơ đồ 1.2 Các hoạt động củng cô khái niệm hệ thống hóa, lụ - Nhận dạng và thể hiện khái niệm là hai dạng hoạt động theo chiều hướng trái ngược nhau, có tác dụng củng cô khái niệm, tạo tiền đề cho việc vận dụng khái niệm. - Hoạt động ngôn ngữ: phát biéu lại định nghĩa bằng lời lẽ của mình, biết cách thay đổi các phát biểu, diễn đạt định nghĩa dưới những dạng ngôn ngữ khác nhau.
Phân tích, nêu bật những ý quan trọng chứa đựng trong trong định nghĩa. - Khái quát hóa, hệ thống hóa, đặc biệt hóa: Khái quát hóa tức là mở rộng khái niệm .Đặc biệt hóa, ví dụ như xét những hình bình hành đặc biệt với một góc vuông dé được hình chữ nhật. Hệ thống hóa, chủ yếu là biết sắp xếp khái niệm mới vào hệ thống khái niệm đã học, nhận biết mối quan hệ giữa những khái niệm khác nhau trong một hệ thống khái niệm. Dạy học định lí toán học 1.
Vi trí và yêu cau Định lí toán học cung cấp cho HS một phần cơ bản hệ thống kiến thức của toàn bộ môn toán. Thông qua việc học định lí toán học, HS hình thành các pham chat tư duy toán học như suy diễn, chứng minh. Các con đường dạy học định lí Việc day học định lí toán học có thé được tiến hành theo hai con đường. Đó là con đường suy diễn và con đường có khâu suy đoán.
Hai con đường này được minh họa bang sơ đồ dưới đây: Gợi động cơ à phát biểu vấn đề Dự đoán và phát biếu định lí Suy diễn dẫn tới định lí Chứng minh định lí Phát biêu định lí Vận dụng định lí để giải quyết vấn đề Củng có định lí 10 1. Chứng minh định Ii. Khả năng chứng minh các định lí là điều mà mỗi GV nên quan tâm và rèn luyện một cách có ý thức cho HS của mình khi dạy các định lí. Ở lớp 7, khi HS lần đầu học các định lí, nhu cầu chứng minh các mệnh đề toán học chưa rõ ràng.
HS thường thắc mắc tại sao họ phải nỗ lực đến vậy dé chứng minh điều đó. Bởi vì, sau một vài phép đo, HS suy ra kết luận của một số ví dụ và ngay lập tức tin rang nó đúng (tức là một định li). Dé khắc phục tình trang này, GV cần nghĩ ra nhiều cách khác nhau dé giúp HS hiểu rằng “những điều hiển nhiên như vậy chỉ có thể hiểu được qua hình ảnh”. GV phải thông báo cho HS răng các em phải chứng minh định lí vì nó phải đúng trong vô số trường hợp.
Những hoạt động củng có định li Hình 1.5 Các hoạt động củng cố định li Nhận dạng và Hoạt động Khái quát hóa, đặc biệ hóa,. - Nhận dạng và thể hiện định lí: Nhận dạng một định lí là xét xem một tình huống cho trước có ăn khớp với định lí hay không.