Chương 1: Cơ sở lý luận về QL ứng dụng CNTT trong dạy học môn mĩ thuật ở trường tiêu học. Chương 2: Thực trạng về QL ứng dụng CNTT trong dạy học môn mĩ thuật ở các trường tiêu học huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Chương 3: Biện pháp QL ứng dụng CNTT trong dạy học môn mĩ thuật ở các trường tiểu học huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. khác nhau kể cả các môn học khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và các môn nghệ thuật.
© Dan Mach, hệ thống GD&ĐT của Đan Mạch là một hệ thống GD. toàn diện chất lượng cao, hoạt động hiệu quả đem lại cơ hội GD cho mọi trẻ em, người công dân. Việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở Đan Mạch trở nên phổ n đối với tắt cả các môn học. Đối với môn mĩ thuật, GD Đan Mạch xem môn học.
này là môn có nhiều ưu thế trong ứng dụng CNTT với các phần mềm ngày cảng tiên tiến và các ưu thế kỹ thuật cao của máy tính, môn mĩ thuật trở nên là một môn học tạo ra nhiều cảm hứng, thoải mái cho người học qua các hình ảnh, tranh vẽ, màu sắc trên màn hình người học sẽ đến với môn mĩ thuật nhẹ nhàng hấp dẫn. Đó là phương pháp mới trong GD thẫm mĩ cho HS, nhất là với HS tiểu học. Qua phương pháp này môn mĩ thuật ngoài chức năng GD thẫm mĩ còn là con đường hướng HS qua GD thẫm mĩ hình thành tư duy sáng tạo, GD kỹ. năng sống, hiểu biết về văn hóa, phát triển năng lực cá nhân.
*Phương pháp Đan Mạch” trong dạy học môn mĩ thuật đã trở thành một dự án giữa Bộ GD&ĐT Việt Nam và Bộ GD Đan Mạch, từ năm học 2015-2016. Phương pháp được áp dụng rộng rãi [2]. Như vậy có thể nói trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu và ứng, dụng CNTT trong GD cũng như QL hoạt động ứng dụng CNTT trong day hoc nói chung và kể cả đạy học mĩ thuật nói riêng. Những nghiên cứu và ứng dụng ở trong nước Ứng dụng CNTT giúp đổi mới phương pháp dạy của GV và phương.
pháp học của HS. Giờ học với sự hỗ trợ của CNTT sẽ trở nên sinh động, hấp dẫn, nhiều hứng thú. Hơn thế nữa, người học có thể học ở mọi lúc, mọi nơi. Đó chính là lý do khiến cho việc ứng dụng CNTT trong các môn học cần thiết 10 hơn, môn mĩ thuật trở thành môn học đặc biệt cần tới sự hỗ trợ của CNTT rất nhiều.
Môn học mĩ thuật cũng như các môn khác không nên bó buộc HS trong. giờ học chính quy khô cứng, HS cần học bắt cứ khi nào và bằng bắt cứ cách nào họ muốn, với các tư liệu từ các thư viện violet, từ một thế giới ảo web rộng lớn cho sự thay đổi, học hỏi và giao tiếp. Vì thế, vấn đề học mĩ thuật ở Việt Nam trong những năm qua đã nhận sự quan tâm thỏa đáng của các cấp lãnh đạo và của các nhà QL và được sự hỗ trợ của Vương quốc Đan Mạch. Dự án Hỗ trợ GD mĩ thuật cấp Tiểu học đã triển khai thí điểm dạy môn nñ thuật theo phương pháp của Đan Mạch (dạy.
mĩ thuật theo phương pháp mới) ở một số địa phương từ năm học 2011 - 2012. Đến nay, kết thúc Dự án, Bộ GD&ĐT đã tập huấn cho CBQL, GV cốt cán của 63 tỉnh/thành phố về dạy học mĩ thuật theo phương pháp mới và cung. cấp tài liệu “Tài liệu dạy học mĩ thuật dành cho giáo viên tiểu học” tới tất cả các trường tiểu học trên cả nước để triển khai thí điểm đại trà từ năm học. Củng với vai trò phát triển nền mĩ thuật hội họa trên thể giới trong thời kỳ hội nhập, vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục thẩm mĩ cũng được đặc biệt quan tim.
Theo tin thần băn bản về tăng cường giảng dạy, đảo tạo và ứng dụng CNTT trong ngành GD giai đoạn 2008 - 2012 nêu rõ “CNTT là công cụ đắc lực hỗ trợ ôi mới phương pháp giảng dạy, học tập và đổi mới QLGD”, và "Đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai và ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH ở từng cấp học, ngành học” [4]. Tir tim quan trong của việc ứng dụng CNTT vào GD ngày 25/01/2017, Thủ tướng Chính phủ ra QD sé 117/QĐ-TTg phê duyệt ĐỀ án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong QL và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định "1 hướng đến năm 2025” Theo đó, đến năm 2020, phấn đấu 100% các cơ quan QL nhà nước về GD&ĐT, các cơ sở GD&ĐT thực hiện QL hành chính xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; 70% cuộc họp giữa các cơ quan QL nhà nước và cơ sở GD&ÐT được áp dụng hình thức trực tuyến. [8] Bộ GD&ĐT đã ban hành kế hoạch về việc thực hiện Đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong QL và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”; thông tư số: 21⁄2017/TT-BGDĐT ngày 06/9/2017 về Quy định ứng dụng CNTT trong hoạt động bồi dưỡng, tập huấn qua mạng Internet cho GV, NV và CB QL giáo dục đề án đưa ra vin dé diy mạnh ứng dụng CNTT đổi mới nội dung, phương pháp dạy - học, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học. Cụ thể, tiếp tục xây dựng và thường xuyên cập nhật kho học liệu số dùng chung phục vụ GD mầm non, GD phổ thông và GD thường xuyên trong toàn ngành, gồm: Bài giảng điện tử, học liệu số đa phương tiện, sách giáo khoa điện tử, phần mềm mô phỏng và các học liệu khác.
Tiếp tục xây dựng và thường xuyên cập nhật hệ thống ngân hàng câu hỏi trực tuyến của các môn học và phần mềm kiểm tra, đánh giá tập trung qua mạng phục vụ HS, giáo viên GD phổ thông và GD thường xuyên; ứng dụng day - học thông minh ở các cơ sở GD4&ĐT, địa phương có đủ điều kiện trên nguyên tắc thiết thực, hiệu quả. Ngoài ra, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cổng thư viện số (giáo trình, bài giảng, học liệu số) liên thông, chia sẻ học liệu với các cơ sở đảo tạo đại học nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo trong GD đại học; triển khai hệ thống học tập trực tuyến tại các cơ sở đào tạo đại học; lựa chọn, sử dụng. các bài giảng trực tuyến của nước ngoài phù hợp với điều kiện trong nước; 12 hình thành một số cơ sở đảo tạo đại học trực tuyến trên cơ sở các trường hiện có bằng nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, doanh nghỉ: Ứng dụng CNTT trong GD giúp đổi mới phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS. Quá trình dạy học được chuyển từ sự truyền đạt kiến thức của GV thành quá trình tự khám phá chiếm lĩnh kiến thức của HS.
Đề tài nghiên cứu khoa học: “Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” do Đào Thái Lai làm chủ nhiệm, dưới sự chủ trì của Viện Chiến lược và chương trình GD, được thực hiện trong 2 năm, với sự tham gia thực hiện của nhiều cá nhân, đơn vị trong và ngoài Viện. Sau thời gian thực hiện đề tài đã thu được những kết quả nhất định và là tài liệu tham khảo quý báu. Đề tài đã đưa ra được những nguyên tắc chung cơ bản và phương pháp ứng dụng CNTT trong dạy học một số môn. Ngoài ra, còn có các Hội thảo khoa học với chủ đề “Ứng dụng công.
nghệ thông tin trong GD&ĐT” nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT và truyền thông: *Các giải pháp công nghệ và QL trong ứng dụng CNTT và truyền thông vào đổi mới phương pháp dạy học” [17] tổ chức tháng 10/2015. Nội dung hội thảo gồm các chủ đề chính sau: Các giải pháp về công nghệ trong đổi mới phương pháp dạy (phổ thông, đại học và trên đại học): công nghệ tri thức, công nghệ mã nguôn mở, các hệ nền và công cụ tạo nội dung trong e-leaning, các chuẩn trao đổi nội dung bai giảng, công nghệ trong kiểm tra đánh giá. Các giải pháp, chiến lược phát triển ứng dụng CNTT và truyền thông vào đổi mới phương pháp dạy học: chiến lược phát triển, kinh nghiệm QL, mô hình tổ chức trường học điện tử, mô hình dạy học điện tử.
l3 Các kết quả và kinh nghiệm của việc ứng dụng CNTT trong dạy học: xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học, kho điện tử,. Trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà QL đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đây ứng dụng CNTT trong giáo dục Như vậy, ứng dụng CNTT vào GD là một xu thế mới đang phát triển của nền GD Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai. Tuy nhiên QL hoạt động ứng dụng CNTT như thế nào trong các nhà trường cho có đang còn là một vấn đẻ cần phải được nghiên cứu sâu hơn. Nhất là ứng dụng.
CNTT trong dạy học môn mĩ thuật. Các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài 1. Quản lý và quản lý giáo dục & Quản lý Theo các giáo trình GD học các trường sư phạm thì: “QL la hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể QL (người quản lý) đến khách thê QL (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tô chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Tiếp cận quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “QL là dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống. nhằm chuyên hệ thống đó sang một trạng thái mới” [14].
Nhắn mạnh các chức năng QL, theo các tác giá Nguyễn Quốc Chí , Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng. cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [21]. Dựa vào vai trò các nguồn lực trong QL, tác giả Trần Kiểm cho rằng: *QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) 14 trong và ngoài tô chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục. đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [35].
Theo Haror Koontz, QL là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.