Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chương trình giáo dục tiểu học tại Việt Nam, môn Mĩ thuật giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục thẩm mĩ, khơi gợi khả năng sáng tạo và hình thành thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh từ sớm. Tuy nhiên, phương pháp dạy học truyền thống vốn phân chia thành các phân môn độc lập (Vẽ trang trí, Vẽ theo mẫu, Vẽ tranh, Thường thức mĩ thuật, Tập nặn tạo dáng) với thời lượng tách rời, khiến tính liên kết giữa các bài học bị lỏng lẻo và hạn chế khả năng tích hợp liên môn cũng như tư duy sáng tạo của học sinh.

Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai Dự án "Hỗ trợ giáo dục Mĩ thuật Cấp Tiểu học" (SAEPS) do Chính phủ Đan Mạch tài trợ. Phương pháp dạy học mới này chuyển từ việc rèn luyện kĩ năng đơn thuần sang phát triển năng lực toàn diện thông qua các quy trình mỹ thuật tương tác. Dù mang lại nhiều ưu điểm, việc triển khai trên thực tế vẫn khiến giáo viên gặp không ít khó khăn về chuẩn bị đồ dùng dạy học, quản lý không gian lớp học và tổ chức các quy trình sáng tạo phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 5. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài "Một số biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch" được thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến dạy - học bộ môn Mĩ thuật ở tiểu học theo phương pháp Đan Mạch.
  2. Nghiên cứu các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Mĩ thuật lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch.
  3. Khảo sát thực trạng dạy và học bộ môn Mĩ thuật lớp 5 tại trường tiểu học.
  4. Đề xuất một số biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch.
  5. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Chủ thể nghiên cứu: Một số biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch.
  • Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối lớp 5 và giáo viên dạy môn Mĩ thuật tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực trạng và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng, hoàn thành vào tháng 04 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận giáo dục học, tâm lý học phát triển và các định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy:

  • Khung pháp lý và chỉ đạo ngành: Điều 24.2 Luật Giáo dục về yêu cầu phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh; Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI; các văn bản chỉ đạo triển khai phương pháp dạy học Mĩ thuật mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm học 2014 - 2015 và 2015 - 2016.
  • Mô hình tháp học tập (Learning Pyramid): Trích dẫn từ nghiên cứu của Phòng thí nghiệm Quốc gia về Đào tạo tại Bethel, Maine (Hoa Kỳ), chỉ ra tỷ lệ lưu giữ tri thức: Thuyết trình (5%), Đọc (10%), Nghe nhìn (20%), Trình diễn (30%), Thảo luận nhóm (50%), Làm thực hành (75%), Dạy lại cho người khác / Ứng dụng ngay kiến thức đã học (90% - 95%).
  • Thuyết đa trí tuệ và phong cách học tập: Học thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner và mô hình các kiểu học tập của Dunn & Dunn, làm nền tảng cho việc thiết kế đa dạng hóa hoạt động học tập tương ứng với ưu thế trí tuệ của từng học sinh.
  • Khung năng lực Mĩ thuật theo SAEPS: Xác định 5 năng lực cốt lõi cần hình thành ở học sinh tiểu học gồm: Năng lực trải nghiệm; Năng lực kĩ năng và kĩ thuật; Năng lực biểu đạt; Năng lực phân tích và diễn giải; Năng lực giao tiếp và đánh giá.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả kết hợp đồng bộ:

  • Phương pháp đọc và xử lý tài liệu: Phân tích sách giáo trình, tài liệu tập huấn dự án SAEPS, các văn bản quy phạm pháp luật và công trình nghiên cứu chuyên ngành.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn: Sử dụng phiếu hỏi (anket) khảo sát ý kiến giáo viên và học sinh; phỏng vấn trực tiếp về thái độ, sự hứng thú và vướng mắc khi thực hiện phương pháp mới.
  • Phương pháp quan sát sư phạm và dự giờ: Ghi nhận hành vi, mức độ tương tác và các tình huống nảy sinh trong tiết học Mĩ thuật.
  • Phương pháp thống kê tính toán: Xử lý định lượng dữ liệu thu thập từ phiếu khảo sát và điểm số kiểm tra sau thực nghiệm.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức giảng dạy đối chứng giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tại khối 5 Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đánh giá nguyên nhân thực trạng và kiểm chứng mức độ khả thi của giải pháp.

Nguồn dữ liệu thực chứng gồm 228 phiếu hỏi học sinh lớp 5, 02 phiếu khảo sát giáo viên chuyên trách Mĩ thuật, biên bản dự giờ và kết quả bài kiểm tra đánh giá sản phẩm thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu với các tài liệu tiêu biểu như Giáo trình Mĩ thuật và Phương pháp dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch ở Tiểu học và tài liệu tập huấn dự án SAEPS của tác giả Lê Tống Ngọc Anh (2014). Tác giả làm rõ khái niệm mĩ thuật, vị trí và nhiệm vụ môn học ở bậc tiểu học với thời lượng chuẩn 1 tiết/tuần (35 tiết/năm, tổng 175 tiết toàn cấp).

Nội dung chương trình lớp 5 truyền thống gồm 5 phân môn: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Thường thức Mĩ thuật và Tập nặn tạo dáng. Tác giả phân tích cách sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học đặc thù: trực quan, quan sát, vấn đáp (phân loại câu hỏi cấp thấp: biết, hiểu, ứng dụng; câu hỏi cấp cao: phân tích, tổng hợp, đánh giá), giải thích - minh họa, thực hành luyện tập, trò chơi và hợp tác nhóm. Chương này cũng phân tích đặc điểm tâm lý học sinh lớp 5 (tri giác, chú ý, trí nhớ trực quan - hình tượng, trí tưởng tượng, tư duy cụ thể, tính cách, nhu cầu nhận thức) và định nghĩa chi tiết cấu trúc 5 năng lực mỹ thuật cốt lõi theo phương pháp Đan Mạch.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi (Đà Nẵng).

Kết quả khảo sát giáo viên (N = 2):

  • Mức độ cần thiết của phương pháp mới: 50% đánh giá "Rất cần thiết", 50% đánh giá "Cần thiết" (Bảng 2.1).
  • Đánh giá tư duy, sáng tạo của học sinh lớp 5: 50% mức Khá, 50% mức Trung bình, 0% Giỏi và Yếu (Bảng 2.2).
  • Lỗi học sinh thường mắc khi "Vẽ tranh theo nhạc": 50% chưa hiểu vẽ theo nhạc là gì; 50% chưa tưởng tượng được đường nét tạo hình; 100% chưa liên tưởng được lời bài hát; 100% chưa tưởng tượng được tranh để xây dựng cốt truyện (Bảng 2.3).
  • Hình thức tổ chức: Dạy học theo nhóm (100%), dạy học cả lớp (100%), dạy học cá nhân (50%) (Bảng 2.4).
  • Mức độ sử dụng phương pháp: Phương pháp giải thích - minh họa được 100% giáo viên dùng thường xuyên; phương pháp trực quan dùng thường xuyên đạt 60%; hợp tác nhóm dùng thường xuyên đạt 60%; phương pháp trò chơi không được dùng thường xuyên (0%), thỉnh thoảng 40%, không bao giờ 60% (Bảng 2.6).
  • Đánh giá hiệu quả tổng thể: 25% Rất hiệu quả, 50% Hiệu quả, 25% Không hiệu quả (Bảng 2.8 / Biểu đồ 2.1).
  • Thiết kế bài giảng chi tiết: 0% giáo viên soạn thường xuyên, 50% thỉnh thoảng, 50% không bao giờ (Bảng 2.9).
Tiêu chí khảo sát giáo viên Mức độ / Tỉ lệ ghi nhận
Nhận thức về tính cần thiết của phương pháp Đan Mạch Rất cần thiết (50%), Cần thiết (50%)
Đánh giá sự phát triển tư duy sáng tạo của học sinh Khá (50%), Trung bình (50%)
Khó khăn chính khi học sinh xây dựng cốt truyện theo tranh Hạn chế tư duy sáng tạo (100%), Sử dụng ngôn ngữ diễn tả yếu (100%)
Tần suất thiết kế bài giảng chi tiết cho phương pháp mới Thường xuyên (0%), Thỉnh thoảng (50%), Không bao giờ (50%)

Kết quả khảo sát học sinh (N = 228):

  • Thái độ với môn học: 58% Thích, 29% Bình thường, 13% Không thích (Bảng 2.10 / Biểu đồ 2.2).
  • Hoạt động yêu thích nhất: Thực hành chiếm 53,33%, Thảo luận chiếm 40,56%, Quan sát chiếm 6,45% (Bảng 2.12).
  • Tần suất trưng bày sản phẩm: 48,75% Thường xuyên, 36,12% Một vài lần, 15,13% Không bao giờ (Bảng 2.13).
  • Tự giác vẽ ở nhà: 40,34% Thường xuyên, 38,21% Thỉnh thoảng, 21,45% Không bao giờ (Bảng 2.15 / Biểu đồ 2.4).
  • Trải nghiệm vẽ theo nhạc: 49,89% Thường xuyên, 26,32% Thỉnh thoảng, 23,79% Không bao giờ (Bảng 2.17 / Biểu đồ 2.5).

Chương 3: Một số biện pháp dạy và học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 5 theo phương pháp Đan Mạch

Dựa trên cơ sở lý luận và nguyên nhân thực trạng, tác giả xây dựng 5 biện pháp sư phạm cụ thể:

  1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học chi tiết, khoa học và đảm bảo đúng tinh thần đổi mới theo phương pháp của SAEPS. Dự kiến chuỗi hoạt động logic, cách thức giới thiệu bài đa dạng, tạo tình huống khơi gợi trải nghiệm và thiết kế giáo án theo chủ đề linh hoạt từ 2 đến 5 tiết.
  2. Biện pháp 2: Xây dựng các chủ đề học tập có nội dung gần gũi, quen thuộc và phù hợp với khả năng nhận thức của các em. Tích hợp 5 nội dung truyền thống vào các chủ đề mở, liên hệ trực tiếp với đời sống sinh hoạt, gia đình, nhà trường và thiên nhiên.
  3. Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường. Lựa chọn quy trình thích hợp (Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc, Vẽ biểu đạt, Tạo hình 3D từ vật tìm được, Xây dựng cốt truyện...) dựa trên không gian và vật liệu sẵn có.
  4. Biện pháp 4: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các hoạt động thi đua, trò chơi. Lồng ghép trò chơi đầu giờ hoặc cuối giờ (thời lượng 2-3 phút), tổ chức thi đua nhóm để tăng tinh thần đoàn kết và giảm áp lực học tập.
  5. Biện pháp 5: Tăng cường nhận xét, đánh giá học sinh. Chuyển trọng tâm sang đánh giá quá trình, động viên sự tiến bộ, hướng dẫn học sinh tự đánh giá và nhận xét chéo sản phẩm của bạn thay vì chỉ dựa vào nhận xét một chiều từ giáo viên.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Tác giả thiết kế kế hoạch thực nghiệm, lựa chọn đối tượng học sinh khối lớp 5 tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, chia thành lớp thực nghiệm (áp dụng 5 biện pháp đề xuất theo phương pháp Đan Mạch) và lớp đối chứng (học theo quy trình truyền thống). Tiến hành dạy thực nghiệm các chủ đề đã thiết kế, tổ chức kiểm tra đánh giá sản phẩm cuối chủ đề, thu thập số liệu điểm số và vẽ biểu đồ so sánh kết quả học tập giữa hai nhóm lớp để chứng minh tính hiệu quả của đề tài.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu thực chứng

Nghiên cứu đã phản ánh bức tranh thực tế về việc áp dụng phương pháp Đan Mạch tại cơ sở giáo dục tiểu học:

  • 100% giáo viên được khảo sát thừa nhận phương pháp Đan Mạch mang lại tính tích cực, giúp học sinh chủ động nhưng 100% đều chỉ ra khó khăn lớn nhất của học sinh lớp 5 nằm ở khâu liên tưởng lời bài hát và xây dựng cốt truyện cho tranh.
  • Khảo sát học sinh khẳng định phương pháp mới tạo được hứng thú vượt trội: 53,33% học sinh yêu thích hoạt động thực hành sáng tạo tự do; 49,89% học sinh thường xuyên được trải nghiệm vẽ theo nhạc và thể hiện sự hào hứng với không khí lớp học.
  • Số liệu khảo sát cũng vạch rõ hạn chế thực tế: Vẫn còn 15,13% học sinh chưa bao giờ được trưng bày sản phẩm do tự ti hoặc thiếu năng khiếu vẽ; 50% giáo viên không duy trì việc thiết kế bài giảng chi tiết trước khi lên lớp.

Đề xuất và giải pháp

Khóa luận đã đưa ra giải pháp toàn diện thông qua 5 nhóm biện pháp sư phạm, tập trung vào:

  • Chuẩn hóa quy trình thiết kế giáo án chủ đề (từ 2-5 tiết) thay thế cho việc chia nhỏ tiết học rời rạc.
  • Quy trình hóa việc tổ chức lớp học nhóm, sử dụng âm nhạc và vật liệu tái chế (tạo hình 3D) nhằm khắc phục tình trạng thiếu thốn đồ dùng dạy học chuyên dụng.
  • Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực, khuyến khích sự tự tin cho nhóm đối tượng học sinh rụt rè.

Đóng góp của đề tài

Tác giả tự xác định đóng góp của khóa luận:

  • Bổ sung và cụ thể hóa các biện pháp thực thi phương pháp Đan Mạch (SAEPS) riêng cho đối tượng học sinh lớp 5, giải quyết khoảng trống của các tài liệu trước đó vốn chỉ dừng lại ở lý thuyết chung hoặc khung chương trình dự án mà chưa đi sâu vào giải pháp sư phạm thực hành cụ thể cho khối lớp cuối cấp tiểu học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu của sinh viên có hạn, phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ tập trung tại một trường tiểu học duy nhất (Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng) với dung lượng mẫu khảo sát giáo viên còn nhỏ (02 giáo viên chuyên trách).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả định hướng mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các trường tiểu học khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và các vùng miền lân cận; nghiên cứu sâu hơn về quy trình tích hợp liên môn giữa Mĩ thuật với các môn Âm nhạc, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội theo phương pháp Đan Mạch cho toàn bộ các khối lớp từ 1 đến 5.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Mĩ thuật: Nắm vững cấu trúc bài giảng theo chủ đề, phương pháp vận dụng 7 quy trình SAEPS và kỹ thuật thiết kế phiếu khảo sát thực trạng.
  • Giáo viên Mĩ thuật tại các trường tiểu học: Tham khảo 5 biện pháp tổ chức lớp học, cách thiết kế trò chơi ngắn (2-3 phút) và các tiêu chí đánh giá năng lực học sinh theo chuẩn đổi mới.
  • Các nhà nghiên cứu phương pháp dạy học: Kế thừa khung lý thuyết về mối liên hệ giữa mô hình Tháp học tập (Bethel), Thuyết đa trí tuệ (Gardner) và việc phát triển 5 năng lực đặc thù môn Mĩ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ lưu giữ tri thức của học sinh theo Mô hình Tháp học tập trong khóa luận được trích dẫn như thế nào?
Theo mô hình từ phòng thí nghiệm Bethel, Maine (Hoa Kỳ) được tác giả dẫn dụng, học sinh chỉ tiếp thu 5% tri thức qua thuyết trình, 10% qua đọc, 20% qua nghe nhìn, 30% qua trình diễn, 50% qua thảo luận nhóm, nhưng đạt 75% khi tự làm thực hành và đạt 90% - 95% khi dạy lại cho người khác hoặc ứng dụng ngay kiến thức đã học vào thực tế.

2. Học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi gặp khó khăn lớn nhất ở khâu nào khi học theo phương pháp Đan Mạch?
Theo kết quả khảo sát giáo viên tại Bảng 2.3 và Bảng 2.7, 100% học sinh gặp khó khăn trong việc liên tưởng lời bài hát để sáng tạo tranh vẽ, 100% chưa tưởng tượng được tranh để xây dựng cốt truyện; nguyên nhân chính do tư duy tưởng tượng còn hạn chế và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ diễn tả chưa tốt.

3. Khóa luận đề xuất bao nhiêu biện pháp dạy học và trọng tâm là gì?
Khóa luận đề xuất 5 biện pháp sư phạm, trọng tâm gồm: Lập kế hoạch dạy học chi tiết theo SAEPS; xây dựng chủ đề gần gũi; vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới; tạo không khí thân thiện bằng trò chơi/thi đua; và đổi mới khâu nhận xét, đánh giá học sinh.

4. Khung thời lượng dạy học môn Mĩ thuật lớp 5 được tác giả trình bày là bao nhiêu?
Chương trình môn Mĩ thuật lớp 5 có thời lượng 1 tiết/tuần, thực hiện trong 35 tuần của năm học, đạt tổng cộng 35 tiết/năm (toàn cấp tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 là 175 tiết).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Thị Thúy Phương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phương pháp dạy học Mĩ thuật Đan Mạch (SAEPS) gắn với đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học. Qua khảo sát thực tế tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, đề tài đã chỉ ra những thuận lợi và khó khăn then chốt của cả giáo viên lẫn học sinh khối lớp 5 khi tiếp cận phương pháp mới. Hệ thống 5 biện pháp sư phạm cùng quy trình thực nghiệm được xây dựng chặt chẽ, đóng góp giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh tiểu học.