Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Trong chương này trình bày những khái niệm thiết yếu của luận án, phân tích cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề rèn luyện hoạt động trí tuệ cho HS trong quá trình dạy học môn Toán, phù hợp xu thế phát triển và hội nhập quốc tế của CHDCND Lào trong thế kỷ XXI. Tổng quan vấn đề nghiên cứu về dạy học môn toán theo hướng rèn luyện các hoạt động trí tuệ cho học sinh Trong mục này sẽ trình bày: Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới, tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và tình hình nghiên cứu ở Lào. Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới Trong những công trình nghiên cứu quan trọng và nổi bật nhất về rèn luyện các hoạt động trí tuệ cho HS trong dạy học môn Toán, có thể kể đến ba công trình nghiên cứu đặc sắc của Polya G. Trong các công trình nghiên cứu này tác giả đã phân tích và làm rõ cơ chế thực hiện các hoạt động trí tuệ phổ biến trong học tập và nghiên cứu Toán học.
Các hoạt động trí tuệ phổ biến đó bao gồm: phân tích và tổng hợp, so sánh, tương tự hóa, khái quát hóa, đặc biệt hóa, …. Cơ chế hoạt động và sự phối hợp giữa các hoạt động trí tuệ đó được khái quát hóa từ các ví dụ minh họa được lựa chọn rất công phu và mẫu mực. Tiếp đó, có thể kể đến công trình nghiên cứu về phát triển tư duy, phát triển trí tuệ cho HS của Bloom B. (dẫn theo [52]) đã đưa ra sáu mức độ nhận thức khác nhau: Một là, biết (hay tri giác) gồm nhớ và lặp lại nguyên dạng thông tin; Hai là, hiểu gồm hồi ức về thông tin (chưa đề cập đến ứng dụng.
Có hai mức: thể hiện, chuyển dịch và giải thích, cắt nghĩa thông tin); Ba là, vận dụng (sử dụng quy tắc, nguyên lý, thuật toán để giải quyết vấn đề (hay bài toán) mà quy tắc không có sẵn trong đề bài; Bốn là, phân tích (tìm các thành phần cấu thành từ tổng thể để phân biệt các ý); 6 Năm là, tổng hợp (kết hợp hoặc tổ hợp các thành phần thành một tổng thể); Sáu là, đánh giá (công thức hóa các phán xét định tính và định lượng). (1967) (dẫn theo [65]) đã đưa ra hai quan niệm mới. Đó là, năng khiếu sáng tạo có sẵn ở mọi cá nhân bình thường (tức là có hệ thần kinh, không có bệnh lý hay có khuyết tật) và quá trình sáng tạo có thể dạy và học được. Quan điểm này đối lập với các quan niệm trước Guilford, đó là sáng tạo chỉ xuất hiện ở các thiên tài (tức là có tính bẩm sinh).
Mô hình về trí tuệ Guilford J. gồm ba yếu tố. Một là, nội dung (các yếu tố làm nền cho hoạt động) gồm nội dung tượng hình, nội dung tượng trưng (con số, chữ viết, biểu tượng, …) nội dung ngữ nghĩa (văn bản viết hoặc văn bản nói), nội dung ứng xử (các quan hệ xã hội). Hai là, hoạt động (quá trình hoạt động trí tuệ) gồm khả năng nhận thức (nhận dạng các sự kiện), tư duy hội tụ (thành phần lôgic của trí tuệ), tư duy phân kì (là loại tư duy sáng tạo có bốn đặc trưng đó là tính linh hoạt, tính mềm dẻo, tính độc đáo, tính nhạy cảm vấn đề), phán xét (đánh giá), trí nhớ (lưu giữ thông tin).
Ba là sản phẩm (kết quả của hoạt động) gồm đơn vị (các yếu tố đơn giản), lớp (toàn bộ các yếu tố có đặc tính giống nhau), quan hệ (nguyên nhân, hệ quả, đối nghịch), hệ thống (toàn bộ các yếu tố được tổ chức lại với nhau), chuyển hóa (chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác), bao hàm (quan hệ nhân quả, suy luận). (2006) trong [64], đã chỉ ra rằng “Mỗi người đều có khả năng về một vài dạng tư duy khác nhau. Bởi vậy, điều quan trọng trong dạy học là người GV phải phát hiện ra những khả năng đó để phát triển năng lực của mỗi người”. Như vậy, trong những thập kỷ gần đây, đã có không ít những công trình nghiên cứu về trí tuệ của con người.
Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng phát triển trí tuệ được hình thành trong hoạt động trí tuệ, tác động của quá trình tâm lý và bối cảnh văn hóa xã hội. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Các hoạt động trí tuệ phổ biến trong môn dạy học môn Toán: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, tương tự hóa, đặc biệt hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nổi bật tại Việt Nam về việc rèn luyện các hoạt động trí tuệ cho HS trong dạy học môn Toán, bao gồm: Theo Hoàng Chúng, trong [7] : “Cần rèn luyện cho học sinh phương pháp suy nghĩ và sáng tạo toán học qua việc rèn luyện các hoạt động trí tuệ như đặc biệt hoá, tổng quát hoá và tương tự hoá. Người học có thể vận dụng các phương pháp đó để nghiên cứu, mò mẫm và dự đoán kết quả, tìm ra phương pháp giải bài toán, sau đó đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức”.
Trong [21] , Nguyễn Bá Kim - Vương Dương Minh - Tôn Thân (1999), đã đề cao việc “Khuyến khích một số hoạt động trí tuệ của học sinh qua môn Toán ở trường THCS”. + Tác giả Nguyễn thái Hòe, trong [14]: “Rèn luyện tư duy qua việc giải bài tập toán”. + Tác giả Hoàng Chúng, trong [5]: “Rèn luyện khả năng sáng tạo toán ở trường phổ thông”. + Tác giả Trần Thúc Trình, trong [47]: “Rèn luyện tư duy trong dạy học môn Toán”.
+ Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, trong [45]: Quá trình dạy – tự học. + Tác giả Bùi Văn Nghị , trong [28] :“Phương pháp dạy học những nội dung cụ thể môn Toán” và trong [29] : “Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn toán ở trường phổ thông” , + Tác giả Bạch Phương Vinh (2013), trong [49] với đề tài: “Rèn luyện hoạt động phân tích và tổng hợp cho HS trong dạy học giải bài tập hình học phẳng ở lớp 9 trung học cơ sở”, đã thực hiện nghiên cứu tổng quan về phân tích và tổng hợp và đặc điểm về sự phát triển trí tuệ của HS lớp 9. Trên cơ sở đó, đã đề xuất ba biện pháp để rèn luyện hoạt động phân tích và tổng hợp trong dạy học giải bài tập, góp 8 phần phát triển trí tuệ, kỹ năng giải toán và nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trường trung học cơ sở Việt Nam(THCS). Tình hình nghiên cứu ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Hiện nay ở CHDCND Lào có một số tạp chí đăng các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực giáo dục, như: tạp chí Vientiane Times, tập chí Vientian Mai, tạp chí Giáo dục và Thể thao, ….
Tuy nhiên trong các ấn phẩm đã xuất bản của tạp chí Giáo dục và Thể thao tính từ năm 1999 đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy một công trình nghiên cứu nào liên quan đến rèn luyện các hoạt động trí tuệ cho học sinh trong dạy học môn Toán ở nước CHDCND Lào. Tuy nhiên, có thể tìm thấy một số công trình nghiên cứu của một số nghiên cứu sinh Lào được thực hiện tại Việt Nam, có liên quan đến tổ chức dạy học môn Toán nhằm phát triển tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS. Có thể kể đến một số công trình sau: Luận án “Khai thác các phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập Đại số và Giải tích 10 của học sinh trung học phổ thông nước CHDCND Lào” của Khamkhong Sibouakham [17]. Trong luận án này, tác giả đã đề xuất bốn biện pháp thực hiện dạy học nhằm tích cực hóa hoạt đông học tập của HS, trên cơ sở thiết kế các hoạt động để HS phát hiện những tri thức, kỹ năng mới phù hợp với thực tiễn giáo dục toán học ở nước CHDCND Lào.
Luận án của Outhay Bannavong [32] đã nghiên cứu về “Vận dụng quan điểm hoạt động vào dạy học số học và đại số lớp 6 ở trường phổ thông nước CHDCND Lào”. Tác giả đã nghiên cứu tổng quan về hoạt động và quan điểm hoạt động trong dạy học môn Toán. Trên cơ sở đó, đề xuất một phương án vận dụng quan điểm hoạt động vào dạy học Toán 6 ở một số trường phổ thông nước CHDCND Lào. Những đề xuất được tác giả trình bày trong luận án, có thể vận dụng trực tiếp vào dạy học những nội dung cụ thể hoặc bồi dưỡng cho các GV quan điểm hoạt động để họ vận dụng được.
Các kết quả nghiên cứu của các tác giả ở trên đều thể hiện sự vận dụng quan điểm hoạt động để tích cực hóa hoạt động học tập của HS trong quá trình dạy học 9 môn Toán. Tiếp tục phát triển và vận dụng quan điểm hoạt động, bằng cách nghiên cứu sâu hơn phương thức khai thác các tình huống trong quá trình dạy học môn Toán, để rèn luyện các hoạt động trí tuệ cho HS. Tìm hiểu tổng quan về các vấn đề có tính thời sự thuộc lĩnh vực giáo dục toán học ở CHDCND Lào trong những thập kỷ gần đây, chưa thấy công trình nghiên cứu nào đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm rèn luyện các hoạt động trí tuệ cho HS trong dạy học môn Toán. Từ các phân tích trên đây, có thể thấy rõ tính thời sự, tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của đề tài nghiên cứu được trình bày trong luận án này.
Năng lực, năng lực trí tuệ, năng lực tư duy và năng lực toán học Trong mục này, luận án sẽ trình bày những khái niệm cơ sở: Năng lực, năng lực trí tuệ, năng lực tư duy và năng lực toán học. Năng lực Trong Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (1998) trong [34, tr. 660] đã nêu: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó hoặc là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Tác giả Nguyễn Như Ý (1999) trong [51, tr.
303], quan niệm: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở sự hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm của mỗi người”.12], quan niệm: “Năng lực được hiểu là những kỹ năng, kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội, .