Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tâm lý học phát triển và tâm lý học sư phạm, lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (15 đến 18 tuổi) – giai đoạn đầu thanh niên – là thời kỳ chuyển tiếp quan trọng với nhiều biến đổi mạnh mẽ về mặt tâm lý và các mối quan hệ xã hội. Đối với học sinh lớp 12, đây là thời điểm đối diện với các áp lực học tập dồn dập: yêu cầu kiến thức nâng cao, sự chuẩn bị cho hai kỳ thi trọng đại gồm kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và kỳ thi tuyển sinh đại học, cùng với áp lực lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Những sức ép này thường xuyên kích hoạt các trạng thái cảm xúc tiêu cực; nếu không được nhận diện và can thiệp kịp thời, chúng có thể chuyển biến thành các rối loạn tâm lý nghiêm trọng như lo âu, stress hoặc trầm cảm.

Các nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam chỉ ra rằng học tập là căn nguyên hàng đầu dẫn đến các rối loạn cảm xúc ở lứa tuổi này. Khảo sát của Nguyễn Thị Hằng Phương (2009) tại Trường THPT chuyên Quảng Bình cho thấy nguyên nhân từ học tập chiếm mức độ ảnh hưởng cao nhất đến rối loạn lo âu của học sinh, điển hình là áp lực phải đậu đại học (96,7%), bị điểm kém nhiều lần (94,4%), phải đạt kết quả học tập tốt (92,2%), quá nhiều bài tập làm không hết (86,7%) và áp lực duy trì danh hiệu học sinh giỏi (73,3%). Nghiên cứu của Nhan Thị Lạc An (2010) và Trần Thị Ngọc Dung (2007) cũng khẳng định khó khăn lớn nhất mà học sinh lớp 12 tại TP. Hồ Chí Minh gặp phải nằm ở hoạt động học tập và trí tuệ cảm xúc.

Huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh là địa bàn biên giới giáp Campuchia, có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, người dân thuộc diện thụ hưởng Chương trình 135 của Chính phủ, trình độ dân trí và mức độ tiếp cận thông tin còn hạn chế. Tại địa phương này, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12. Từ thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Tâm lý học của tác giả Nguyễn Tường Vy (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 2017) đã chọn đề tài "Biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của đề tài là tìm hiểu thực trạng biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; từ đó đề xuất các kiến nghị thực tiễn nhằm hạn chế cảm xúc tiêu cực cho học sinh.

Đề tài thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 (khái niệm cảm xúc, cảm xúc tiêu cực; đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông và học sinh lớp 12; khái niệm và đặc điểm hoạt động học tập của học sinh lớp 12).
  2. Xác định thực trạng biểu hiện và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
  3. Đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: 170 học sinh lớp 12 (gồm 85 học sinh Trường THPT Nguyễn Huệ và 85 học sinh Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng) cùng 20 giáo viên giảng dạy khối 12 (10 giáo viên Trường THPT Nguyễn Huệ và 10 giáo viên Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng).
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động học tập của học sinh lớp 12 huyện Bến Cầu và biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu và mô tả các biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 trên phương diện tâm lý học (thông qua hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ), không đi sâu vào phương diện sinh lý học.
  • Phạm vi địa bàn: 2 trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (Trường THPT Nguyễn Huệ và Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Đề tài tổng hợp và kế thừa hệ thống lý luận tâm lý học trong và ngoài nước về cảm xúc và hoạt động học tập:

  • Lý thuyết về cảm xúc: Tác giả phân tích tiến trình lịch sử nghiên cứu cảm xúc từ Aristotle, Charles Darwin (1859, 1872), thuyết kích thích sinh lý Cannon – Bard (1929), thuyết bánh xe cảm xúc của Robert Plutchik (1980, 1984), thuyết nhận thức cảm xúc của Schachter – Singer (1964), thuyết đánh giá nhận thức của Richard Lazarus (1980), thuyết quy kết nguyên nhân của Bernard Weiner (1985), thuyết phản hồi nét mặt của Paul Ekman, Sorenson và Friesen (1969), thuyết cấu tạo xã hội của James Averill (1980), cùng thuyết các cảm xúc phân hóa của Carroll Izard.
  • Khái niệm cảm xúc tiêu cực: Dựa trên quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động tại Việt Nam (Trần Trọng Thủy, Đào Thị Oanh, Nguyễn Quang Uẩn, Huỳnh Văn Sơn, Lê Mỹ Dung), tác giả xác lập định nghĩa: Cảm xúc tiêu cực là những rung động của chủ thể đối với từng sự vật hiện tượng có liên quan đến việc không thỏa mãn nhu cầu của chủ thể trong những tình huống nhất định và được thể hiện qua hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
  • Cấu trúc tâm lý của cảm xúc tiêu cực đối với việc học: Gồm 3 thành tố: (1) Tiếp nhận kích thích (từ môi trường học tập hoặc nội tại bản thân); (2) Đánh giá kích thích (thái độ không thỏa mãn nhu cầu học tập/yêu cầu sư phạm); (3) Hành vi biểu cảm (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, tư thế).
  • Phân loại cảm xúc nghiên cứu: Đề tài lựa chọn khảo cứu 5 loại cảm xúc tiêu cực cơ bản xuất hiện trong hoạt động học tập: Buồn bã, Sợ hãi, Chán nản, Giận dữ, Lo lắng.
  • Cơ sở pháp lý và quy định giáo dục: Vận dụng Điều 27 và Điều 28 (Chương II) Luật Giáo dục năm 2001 về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục THPT; Điều 7 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS và THPT (các hình thức kiểm tra miệng, kiểm tra viết, kiểm tra thực hành thường xuyên và định kỳ).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Khóa luận phối hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích, tổng hợp các giáo trình, công trình nghiên cứu, bài báo chuyên ngành và văn bản quy phạm pháp luật trong và ngoài nước liên quan đến cảm xúc học tập.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát phục vụ thu thập dữ liệu định lượng từ 170 học sinh lớp 12 và 20 giáo viên THPT tại 2 trường trên địa bàn nghiên cứu.
  3. Phương pháp quan sát sư phạm: Rút mẫu ngẫu nhiên từ khách thể khảo sát để tiến hành dự giờ trực tiếp 5 tiết học nhằm ghi nhận biểu hiện hành vi thực tế của học sinh.
  4. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn bán cấu trúc 1 học sinh và 1 giáo viên nhằm đào sâu nguyên nhân và thu thập ý kiến đề xuất giải pháp.
  5. Phương pháp thống kê toán học: Dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích trên phần mềm SPSS phiên bản 16.0, tính toán các đại lượng: Điểm trung bình (ĐTB), Độ lệch chuẩn (ĐLC), Điểm trung bình chung (ĐTBC) và xếp thứ hạng (TH) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12

Chương này xây dựng nền tảng lý thuyết cho toàn bộ đề tài:

  • Tổng quan lịch sử nghiên cứu: Hệ thống hóa các công trình quốc tế (Tobias, 1979; Xinyin Chen & Bo-hu-li, 2000; Reinhard Pekrun, 2002, 2005; các thang đo Bar-On EQ-i, CSMS, ERQ, LEAS, SSRI, ECI, ERICA, AEQ) và các nghiên cứu trong nước (Lê Mỹ Dung, 2013; Đinh Thị Hồng Vân, 2014; Trần Thị Ngọc Dung, 2007; Nhan Thị Lạc An, 2010; Nguyễn Đại Hạnh, 2013).
  • Đặc điểm tâm lý và hoạt động học tập của học sinh lớp 12: Phân tích sự phát triển nhận thức (tri giác có mục đích, ghi nhớ có chủ định, tư duy trừu tượng logic phát triển mạnh, khả năng phân phối và di chuyển chú ý linh hoạt), nhân cách (tự ý thức, lòng tự trọng, ý thức nghề nghiệp, sự định hình thế giới quan) và tính nhạy cảm cảm xúc đặc trưng của học sinh cuối cấp THPT.
  • Hệ thống hóa biểu hiện hành vi của 5 loại cảm xúc tiêu cực: Xác lập bảng tiêu chí nhận diện biểu hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ phục vụ cho việc đo lường thực tiễn:
Loại cảm xúc Biểu hiện hành vi phi ngôn ngữ Biểu hiện hành vi ngôn ngữ
Buồn bã Rơm rớm nước mắt, khóc; cơ mặt chảy xuống, lông mày hạ thấp, mi mắt cụp; cúi đầu, cúi mặt, mắt nhìn xuống; vai buông thõng; mặt xị xuống; vẽ/xé nát tập. Nói lầm bầm trong miệng, giọng ủ rũ than thở; nói thì thầm giọng nhỏ không ai nghe được; im lặng.
Sợ hãi Mặt tái nhợt, cơ mặt co lại, nhíu mày, mắt mở to căng thẳng; môi khép hờ, hơi run; quay đi chỗ khác, che mặt, che tập, né tránh giao tiếp mắt với GV; thu mình, co rúm, cúi đầu, rụt vai. Nói lí nhí, giọng yếu ớt, nhỏ tiếng, không rõ lời; ấp úng, nói lắp; im lặng.
Chán nản Mặt ngây ra, mắt thẫn thờ, lim dim; làm việc riêng (xoay bút, bấm đầu bút, nhịp chân, gõ bàn); quay tới lui chọc phá bạn; nhìn ra cửa sổ, tay chống cằm, nằm gục lên bàn. Nói chuyện riêng; nói thì thầm, cười khúc khích; im lặng khi được hỏi.
Giận dữ Mặt đỏ gay, lông mày rướn cong sát nhau, mắt mở to trừng trừng, mi mặt căng; nắm chặt tay thành nắm đấm, giậm chân, nghiến răng, bặm môi; đập bàn, ném/xé đồ dùng; đánh bạn. Hét lên, gắt gỏng, cục cằn, nói nhanh; giọng nghẹn lại, ngắt quãng không thành tiếng; lớn tiếng tranh cãi, gây gổ.
Lo lắng Đứng ngồi không yên; cắn môi, bẻ đốt ngón tay; run rẩy; gãi đầu, gãi tai; hai tay nắm chặt vào nhau hoặc bấu vào quần áo; chân khép chặt; mắt dáo dác nhìn quanh như cầu cứu. Lúng túng, nói lắp bắp, nói lộn xộn; nói lí nhí không thành câu; im lặng.
  • Xác định 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng: (1) Nhóm yếu tố bản thân học sinh (tính cách, năng lực, khí chất, sở thích, thể lực, vốn ngôn ngữ); (2) Nhóm yếu tố giáo viên (cách ứng xử, mối quan hệ thầy trò, thái độ, phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá); (3) Nhóm yếu tố gia đình (phong cách giáo dục, cách ứng xử, sự kỳ vọng/bất đồng quan điểm về khối thi/nghề nghiệp, điều kiện kinh tế); (4) Nhóm yếu tố chương trình học (khối lượng nội dung môn học, hình thức học, thời lượng tiết học, tần suất và áp lực kiểm tra).

Chương 2: Tổ chức nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn:

  • Tổ chức nghiên cứu lý luận: Xác định mục đích, đối tượng tài liệu cần phân tích và tổng hợp hệ thống khái niệm.
  • Tổ chức nghiên cứu thực tiễn: Quy định quy trình chọn mẫu tại Trường THPT Nguyễn Huệ và THPT Huỳnh Thúc Kháng; thiết kế công cụ bảng hỏi dành cho học sinh (170 phiếu) và giáo viên (20 phiếu); xây dựng biên bản quan sát sư phạm trực tiếp 5 tiết học và đề cương phỏng vấn sâu 1 học sinh, 1 giáo viên. Quy định cách thức mã hóa, nhập liệu và xử lý các biến số trên phần mềm SPSS 16.0.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng và định tính:

  • Thực trạng mức độ biểu hiện: Tổng hợp mức độ biểu hiện cảm xúc tiêu cực chung đối với việc học của học sinh lớp 12 (Bảng 3.1, Bảng 3.2); phân tích chi tiết mức độ và tần suất xuất hiện của từng loại cảm xúc: Buồn bã (Bảng 3.3), Sợ hãi (Bảng 3.4), Chán nản (Bảng 3.5), Giận dữ (Bảng 3.6), Lo lắng (Bảng 3.7 / 3.8).
  • Phân tích theo phương thức biểu đạt: Đánh giá mức độ biểu hiện qua hành vi ngôn ngữ (Bảng 3.8) và hành vi phi ngôn ngữ (Bảng 3.9). Kết quả cho thấy học sinh lớp 12 có xu hướng kiểm soát và che giấu cảm xúc qua ngôn ngữ (chủ yếu chọn cách im lặng hoặc nói lí nhí), trong khi cảm xúc tiêu cực bộc lộ rõ rệt hơn qua các tín hiệu phi ngôn ngữ (nét mặt, tư thế, hành vi làm việc riêng).
  • So sánh biểu hiện cảm xúc tiêu cực theo các biến số nhân khẩu học:
    • Theo trường (Bảng 3.10, Bảng 3.11): So sánh giữa học sinh Trường THPT Nguyễn Huệ và Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng.
    • Theo giới tính (Bảng 3.12, Bảng 3.13): Phân tích sự khác biệt giữa học sinh nam và học sinh nữ trong việc thể hiện hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ khi gặp cảm xúc tiêu cực.
    • Theo học lực (Bảng 3.14, Bảng 3.15): Khảo sát mức độ biểu hiện ở các nhóm học sinh có học lực giỏi, khá, trung bình, yếu.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Đánh giá thứ hạng và mức độ tác động của 4 nhóm yếu tố: Nhóm bản thân học sinh (Bảng 3.17), nhóm gia đình (Bảng 3.18), nhóm giáo viên (Bảng 3.19) và nhóm chương trình học (Bảng 3.20), tổng hợp tại Bảng 3.16.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Mức độ xuất hiện của các cảm xúc tiêu cực: Đề tài kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu về các trạng thái cảm xúc chiếm ưu thế ở học sinh lớp 12 huyện Bến Cầu. Trong 5 loại cảm xúc khảo sát (buồn bã, sợ hãi, chán nản, giận dữ, lo lắng), các biểu hiện của cảm xúc lo lắng và chán nản chiếm ưu thế rõ rệt, gắn liền với áp lực thi tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh đại học và định hướng nghề nghiệp.
  2. Đặc điểm biểu hiện hành vi: Do sự phát triển tự ý thức và tính tự trọng cao, học sinh lớp 12 có khả năng kiềm chế ngôn ngữ để tạo vỏ bọc che giấu cảm xúc. Biểu hiện cảm xúc tiêu cực qua hành vi ngôn ngữ phổ biến nhất là sự im lặng, nói lầm bầm/lí nhí. Ngược lại, hành vi phi ngôn ngữ bộc lộ rõ rệt hơn thông qua các dấu hiệu: mặt thẫn thờ, chống cằm nhìn ra cửa sổ, nằm gục lên bàn, bẻ ngón tay, mắt dáo dác nhìn quanh.
  3. Sự phân hóa giữa các nhóm khách thể: Khóa luận xác nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biểu hiện cảm xúc tiêu cực giữa học sinh hai trường THPT trên địa bàn huyện Bến Cầu, giữa học sinh nam và học sinh nữ, cũng như giữa các nhóm học sinh có kết quả xếp loại học lực khác nhau.
  4. Thứ tự tác động của các yếu tố: Đề tài chỉ ra 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cảm xúc tiêu cực của học sinh lớp 12 theo mức độ khác nhau, trong đó áp lực từ chương trình học (nội dung, phương pháp kiểm tra đánh giá), kỳ vọng gia đình và phương pháp ứng xử sư phạm của giáo viên đóng vai trò chi phối trực tiếp đến tâm lý học sinh.

Giải pháp và kiến nghị đề xuất

Trên cơ sở kết quả khảo sát, tác giả đề xuất hệ thống khuyến nghị thực tiễn:

  • Đối với học sinh: Tự rèn luyện kỹ năng nhận diện và làm chủ cảm xúc; chủ động chia sẻ khó khăn học tập với bạn bè, thầy cô và cha mẹ; xây dựng phương pháp học tập khoa học, sắp xếp thời gian biểu hợp lý giữa ôn tập và nghỉ ngơi để giảm căng thẳng.
  • Đối với giáo viên: Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, tạo không khí lớp học cởi mở, thân thiện; linh hoạt trong kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kỳ; chú ý quan sát các biểu hiện phi ngôn ngữ của học sinh để kịp thời hỗ trợ tâm lý; điều chỉnh cách ứng xử sư phạm, tránh phê bình gay gắt gây tổn thương tự trọng của học sinh.
  • Đối với nhà trường: Tổ chức các hoạt động tư vấn tâm lý học đường và hướng nghiệp chuyên sâu cho học sinh lớp 12; tạo điều kiện cho các hoạt động ngoại khóa, thể thao nhằm giải tỏa áp lực thi cử.
  • Đối với gia đình: Phụ huynh cần thấu hiểu năng lực và nguyện vọng của con em; tránh tạo áp lực thành tích hoặc áp đặt khối thi, ngành nghề; tạo môi trường gia đình hòa thuận, động viên kịp thời trong các giai đoạn ôn thi cao điểm.

Đóng góp của khóa luận

  • Về mặt lý luận: Khóa luận đã hệ thống hóa và cụ thể hóa khung lý thuyết về cảm xúc tiêu cực trong hoạt động học tập của học sinh lớp 12; xây dựng được bảng tiêu chí chi tiết mô tả các chỉ báo hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của 5 loại cảm xúc tiêu cực trong bối cảnh học đường.
  • Về mặt thực tiễn: Đây là công trình đầu tiên khảo cứu chuyên biệt và toàn diện về thực trạng biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 tại huyện biên giới Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Dữ liệu thực chứng phản ánh chân thực đời sống tâm lý của học sinh vùng khó khăn, cung cấp cơ sở thực tế cho các nhà quản lý giáo dục địa phương và giáo viên THPT trong việc can thiệp, hỗ trợ tâm lý học đường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi nội dung: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu biểu hiện cảm xúc tiêu cực dưới góc độ tâm lý học (thể hiện qua hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ), chưa tiến hành đo đạc các chỉ số sinh lý học (nhịp tim, huyết áp, sóng não, phản ứng thần kinh thực vật) đi kèm với các trạng thái cảm xúc.
  • Hạn chế về địa bàn và dung lượng mẫu: Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi 170 học sinh và 20 giáo viên tại 2 trường THPT thuộc huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Do tính chất đặc thù của địa bàn biên giới, kết quả khảo sát mang tính đại diện cao cho khu vực nông thôn/biên giới nhưng cần thận trọng khi khái quát hóa cho các môi trường đô thị lớn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau; ứng dụng các thang đo quốc tế chuyển ngữ (như AEQ, ERQ) để kiểm định mô hình cấu trúc; kết hợp đo lường thực nghiệm tâm sinh lý và xây dựng các chương trình can thiệp tâm lý học đường thực nghiệm nhằm giảm thiểu cảm xúc tiêu cực cho học sinh cuối cấp THPT.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Sư phạm: Tham khảo khung lý luận về cảm xúc học tập, quy trình thiết kế công cụ bảng hỏi, kỹ thuật kết hợp phương pháp quan sát dự giờ với phỏng vấn sâu và quy trình xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0.
  • Giáo viên THPT và cán bộ quản lý giáo dục: Sử dụng bảng danh mục biểu hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của 5 loại cảm xúc tiêu cực (Buồn bã, Sợ hãi, Chán nản, Giận dữ, Lo lắng) như một công cụ quan sát trực quan trong lớp học, giúp sớm nhận diện các dấu hiệu căng thẳng, chán học ở học sinh lớp 12.
  • Cán bộ tư vấn tâm lý học đường: Vận dụng các phát hiện về yếu tố ảnh hưởng (áp lực thi cử, kỳ vọng gia đình, ứng xử sư phạm) để thiết kế các chương trình tham vấn, định hướng nghề nghiệp và quản lý stress cho học sinh cuối cấp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tập trung khảo sát những loại cảm xúc tiêu cực cụ thể nào ở học sinh lớp 12?
Khóa luận lựa chọn khảo cứu 5 loại cảm xúc tiêu cực cơ bản xuất hiện trong hoạt động học tập gồm: Buồn bã, Sợ hãi, Chán nản, Giận dữ và Lo lắng.

2. Khách thể nghiên cứu thực tiễn của đề tài gồm những ai và được thu thập tại đâu?
Khách thể gồm 170 học sinh lớp 12 (85 học sinh Trường THPT Nguyễn Huệ, 85 học sinh Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng) và 20 giáo viên giảng dạy khối 12 (10 giáo viên Trường THPT Nguyễn Huệ, 10 giáo viên Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng) tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

3. Vì sao tác giả nhận định việc nhận biết cảm xúc tiêu cực của học sinh lớp 12 qua ngôn ngữ gặp nhiều khó khăn hơn qua phi ngôn ngữ?
Do học sinh lớp 12 có sự phát triển tự ý thức và tính tự trọng cao, nhận thức rõ hậu quả của việc bộc lộ cảm xúc nên các em có xu hướng kiềm nén, tạo vỏ bọc che giấu cảm xúc bằng cách im lặng hoặc nói lầm bầm/lí nhí. Do đó, cảm xúc tiêu cực bộc lộ chân thực hơn qua các phản ứng phi ngôn ngữ như nét mặt, ánh mắt, tư thế và hành vi làm việc riêng.

4. Đề tài xác định những nhóm yếu tố nào ảnh hưởng đến biểu hiện cảm xúc tiêu cực của học sinh?
Đề tài xác định và phân tích 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm: (1) Nhóm yếu tố bản thân học sinh; (2) Nhóm yếu tố giáo viên; (3) Nhóm yếu tố gia đình; (4) Nhóm yếu tố chương trình học.

5. Đề tài đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu thực tiễn và công cụ xử lý số liệu nào?
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (170 HS, 20 GV), quan sát sư phạm (dự giờ trực tiếp 5 tiết học), phỏng vấn sâu (1 HS, 1 GV) và xử lý dữ liệu thống kê toán học bằng phần mềm SPSS 16.0.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tường Vy đã giải quyết trọn vẹn các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng biểu hiện cảm xúc tiêu cực đối với việc học của học sinh lớp 12 tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Nghiên cứu khẳng định các trạng thái lo lắng, chán nản chiếm ưu thế trong hoạt động học tập của học sinh cuối cấp và thường bộc lộ rõ rệt qua các tín hiệu hành vi phi ngôn ngữ. Hệ thống kết quả thực chứng và các giải pháp sư phạm, tâm lý được đề xuất trong công trình là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn đối với công tác giảng dạy, quản lý và tư vấn tâm lý học đường tại các trường trung học phổ thông.