mở đầu trong việc xác định mai liên quan giữa CX và trạng thải cơ thể ứng với CX dé [7]. Vào những năm 1960, Richard Alpert đã nghiên cứu vẻ nối lo sợ trong các ki thi. Nghiên cứu nay khang định rằng HS bị sự lo lắng gây tác hại đến kết quả học tap. Nghiên cứu nay cho thay CX có tác động mạnh mẽ đến thái độ va hành vi của con người [7].
Một nghiên cứu định tinh cho thay, HS trải nghiệm các CX da dang và phong nhủ trong mỗi trường học tập. Trong dé lo au là biểu hiện CX thường xuyên nhất trong học tập [7]. Trong nghiên cửu xuất bản năm 1979 “Anxiety Research in Educational Psychology”, Tobias giải thích nỗi lo äu ảnh hưởng dén việc học tập của HS qua ba điểm; thứ nhất là khi HS có nỗi lo âu cao độ. họ thường phân tan tư tưởng dù đang tT 4 a i = To ' dt he há ˆ -=.
a ẩ chim chủ theo dối vấn đẻ, Thứ hai, với tài Hiệu học tip không rũ rang, khó cứng cũng sẽ tao khó khăn trong quả trính trí giác của PES. Ther ba là nói lo du lam hạn chế khải quát bài hoe của các em | 8|. Nghiên cứu trên trẻ 12 tuổi của tác gia Xinyin Chen và Bo-hu-li (2000) đã ket luận rang tam trang that vọng có tác động âm tinh đến kết qua học tập của các em [7]. llội dong Nghiễn cứu Gido dục Ue thực hiện nghiên cửu nhằm danh giá và phát triển các đặc điểm CX xã hội tích cực của ITS (lứa tuổi trước tuổi học cho đến lớn 12) theo ngữ cảnh với các chương trình học khác nhau và hành động tích cực của người lớn (cha me/ GV) / bạn bé trong: (1) trường học.
Kết quả nghiên cửu cho thấy: HS trải nghiệm khé khăn vẻ CX xã hội khác nhau. Bảy trong mười HS nói răng cảm thay lo ling. Hai trong mười HS nói em cảm thay rat tuyệt vọng, chan nan va đã ngừng hoc trong mội tuần. Một phản ba HS được nghiên cứu nói rằng, các em mắt bình tĩnh khi bị người khác bat nat [7].
Nhiều nghiên cứu khác đã cho thay mi liên hệ chặt chẽ giữa mức độ thiểu kha ning kiểm soát CX với các biểu hiện rỗi loạn hành vi khác nhau ử HS phé thông như; khuynh hưởng sống thu minh lại, lo hãi và tram cảm, thiểu tập trung, dé phạm tội va gây hẳn (T. Achenbach & Catherine Howell, Urie Bronfenbrenner, Judy Garber & es. Cac nghiên cứu mỗi quan hệ giữa trí tuệ CX va thành tích học tập ở thanh thiểu niên Ue cho thấy: thành tích học tập tốt có mỗi tương quan cao với tong điểm trí tuệ CX: Cụ thé là cỏ mỗi tương quan chặt giữa các thành 16 của trắc nghiệm cho phép dự đoán kết quả học tập ở các môn học. Nghiên cửu nay đã dưa ra ket luận; Sự phát triển của tri tuệ CX cỏ thé cung cap cơ hội lớn đẻ cải thiện thành tích học tập va nang lực CX 71.
Trong quyền Emotions and Learning, Reinhard Pekrun đã chỉ ra rằng tat cả những CX đều cỏ ảnh hưởng quan trọng đến quả trình học tập va kết quả đạt được của HS. CX kiểm soát sự tham gia của HS, ảnh hưởng tới động cơ học tập, thay đỏi lựa chon vẻ chiến lược học tập, chúng con tac động đến sự phát triển cá nhân, sức khỏe the chat va sức khóc tinh than. Nhìn từ góc dé giáo duc, ta có the thay mức độ quan trong của CX đổi với HDIIT của HS. [31] Mat số thang do CX.
Thang do quản lý CX budn ba dành cho trẻ em CSMS (Children's Sadness Management Seale} của Zeman.Shipman và Penza Clyve (2001) bàng hei điều chính CX ERO (Emotion Repulitton Questionnaire) của Gross và John (30031: thang do LEAS (Levels of Iimohonal Awareness Scale) — nhận thức CX Bay la thang do về nhận thức CX, gam có một chuối 20 cảnh tượng ma có sự tham gia của hai người. được xây dựng dé gợi ra 4 nhằm CX: giận dữ. sợ hãi, hạnh phúc va huản ba: Bang kiểm Bar-On EQ-I (Emotional Quotict Inventory) được phát hanh năm 1997, dựa trên thang do nguyễn ban năm 1988, dé do sức khoẻ tam ly. Phép do nay được thiét ké dé do lường một loạt các nắng lực liên quan đến nhận thức, do các khả năng va kĩ năng ma Bar-On cho rang chúng sẽ ảnh hưởng đến năng lực của một cá nhân đương dau một cách có hiệu quả với những doi hỏi của môi trường va ap lực.
sức ép trong cuộc sông; Thang do SSRI (Schutte Self- Report Inventory) dựa trên hau hết lý thuyết gan đây của John Mayer va các cộng sự của ông: thang đo nay đánh giá toàn bộ El (emotional intelligence) cũng như 4 nhân to của El; EC] (Emotional Competency Inventory) của Boyatzis (1999), Thang do CX thiết kế theo kiểu tự đánh gia va người khác đánh giá. Thang do nay được thiết kế dựa trên định nghĩa của trí tuệ CX như là năng lực nhận biết những tỉnh cảm của minh va của người khác dé tự thúc day mình. quan lý, kiểm soát CX của minh vả điều khiển quản lý các quan hệ với người khác; C. Meyer đã xây dựng Thang tự đánh giá điều chỉnh CX dành cho trẻ em và thanh thiểu niên (Emotion Regulation Index for Children and Adolescents - ERICA); Nghiên cứu thích nghỉ Thang đánh giá CX học lập (Academic Emotions Questionnaire -AEQ) (Pekrun, Goetz, Perry, 2005} danh cho HS ở Philippines được cau trúc 26m 8 CX trong bai cảnh học tập: tức giản.
lo lắng, chan nan, thích thú, hy vọng. tự hao va xấu ho.[34] Trên thể giới, CX đã được nghiên cứu từ rất lâu đời, khởi nguồn từ việc xem xét CX như một động cơ của hanh động, rồi đến phan tích cơ sq sinh ly của CX, nhìn nhận CX đưởi góc độ tâm lý va đưa ra những biểu hiện của CX con người thể hiện trên nhương điện ngôn ngữ và phi ngôn ngit, đồng thời cũng làm rõ được những tác động của CX đổi với con người. Bên cạnh đó, CXTC cũng được nghiên cửu rộng rãi vẻ những ảnh hưởng của nd dải với hoạt động của con người nói chung và HDHT của HS nói riêng. Thông qua các nghiên cứu ta thay được ring CX chỉ phối kha lớn đến đời song và hoạt động của con người.
tương tự CXTC gây ra không ít ảnh hưởng xau 9 doi với HIDE của HS. Nhiễu nhiên cứu cũng đã dưa ra dược những thane đa ve CX cỏ tỉnh thực tiễn cao. Những công trình nghiên cứu trong nước về biểu hiện cảm xúc tiêu cực dai với việc hee cua học sink Đến thời điểm hiện tai, có khá nhiều công trình trang nước nghiên cứu về CXIC của HS. Diễn hình là nghiên cửu của cô Lễ Mỹ Dung (2013), bảng phương nhấp quan sát trên 480 HS lớp | và 2 trong giờ học trên lớp, điều tra bảng hỏi 125 GV và 480 phụ huynh HS lớp 1 va 2 trên địa bản thành pho Ha Nội va Da Nẵng đã đưa ra được một danh mục 18 biểu hiện của 4 loại CXTC 14 giận dữ, buôn, thờ o và sợ hãi trong HPL của HS tiểu học thể hiện qua hành vi ngôn ngữ va phi ngôn ngữ.
Trong do CX thé ơ được biểu hiện rõ rang nhất với điểm trung bình là 2.25, con CX buản ba có biểu hiện không rõ với điểm trung bình là 1. Theo dẻ tải thi nguyên nhãn chủ yêu gây ra CXTC đổi với HĐHT của HS tiêu học là đến từ cách ứng xử của GV và phụ huynh HS. Nguyên nhân “GV chế, mang, trách, phạt chiếm cao nhất với 96,29%, kế đến là “Bố me hat hii, đánh mang, doa dim” với 88.[6] Để tài của cô Dinh Thị Hong Van (2014) nghiên cửu vẻ cách tng phó với những CX ảm tinh trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành pho Huế. Mẫu được chọn 1a 547 HIS lớp 8, 9, 10, 11, 12 của 4 trường THPT tại thành pho Huế.
Thông qua nhương phản điều tra bang bảng hỏi, giới hạn nghiên cứu ở 3 loại CX 4m tinh la tức giận, buôn bã va lo âu, dé tải đã nêu ra được mỗi quan hệ giữa yếu tủ đánh giá về sự kiện gay ra CX âm tinh và cách ứng phỏ với CX am tinh trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên. Tác nhân chính gây ra CX âm tính trong tỉnh huỗng an tượng nhất ở trẻ vị thành niên liên quan đến quan hệ. ứng xử với bo mẹ và các người than trong gia đình. Trong nhóm tác nhân nay, van dé khiến trẻ dé nảy sinh CX âm tinh nhất là các ap lực về thành tích học tập bé mẹ đặt ra cho trẻ (50.
Bên cạnh đỏ, các van dé liên quan đến quan hệ, cách ứng xứ với bạn bẻ thay cé cũng khiến trẻ buôn bã, lo au, tức giản. lũ Việc nghiên cứu về khỏ khan tâm lý của HS lớp 12 cũng được coi trong. Những kha khẩn tâm lý gặp phải doi với HDITIT cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra những CXTC cho HS lớn 12. Tác giá Tran Thị Ngọc Dung (2007) đã nghiên cứu vẻ sự dap ứng khó khăn tâm lý trong học tập của HIS lớp 12 tại một số trường (HPT tại thành phé Hỗ Chi Minh đã kết luận rang khó khăn về trí tuệ CX là khỏ khan củ mức độ cao nhất ở HS lớp 12 [8].
Luận văn thạc sĩ của Nhan Thị Lạc An (2010) vẻ cách thức ứng phỏ trước những khỏ khăn tâm lý của HS THPT thành pho 116 Chi Minh đã nêu ra một số những khó khăn tam ly ma HS lớp 12 dang gặp phải, trong do điển hình là khé khan vẻ van dé học tập. Vi bên cạnh áp lực học hanh, bai vở ở trưởng. các em còn đối diện với áp lực cao độ vẻ việc chọn nghẻ, chọn trường dé thi đại hoc. Chính áp lực từ các ki thi khiển các em rơi vào tỉnh trạng khỏ khăn [1].
Trong bai bao Thực trạng va nguyên nhân gây ra rồi loạn lo au ở HS trường THPT chuyên Quảng Binh đăng trên tạp chi Tâm lý học số 6 (2009), tác gid Nguyễn Thị Hãng Phương đã đưa ra kết luận rang có 4 nhóm nguyên nhân gây ra rồi loạn lơ âu cho HS THPT bao gằm nhóm nguyên nhân từ học tập, nhỏm nguyên nhân từ bản thân, nhủm nguyên nhãn tir gia đình và nhóm nguyên nhân liên quan đến các mỗi quan hệ xã hội. Qua nghiên cứu thi nhóm nguyên nhân từ học tập có mức độ ảnh hưởng cao nhất đến thực trang rỗi loạn lo âu của các em. Ở nhóm nguyên nhân nay, những yếu tổ pay ra lo âu nhiều nhất là phải đậu đại học (chiếm 96.7%), bị điểm kém nhiều lần (chiếm 94.4%), phải có kết quả học tập tốt (chiếm 92.