CHƯƠNG 1. TÔNG QUAN VE TAI LIEU SO, SIEU DU LIEU VA MOT SO CHUAN SIEU DU LIEU 1. Tài lệu số 1.Khái niệm tài liệu số. a/ Định nghĩa tài liệu số.
Tài liệu số (TLS) được hiểu là tất cả các tài liệu được mã hoá dưới dạng tín hiệu số hay còn gọi là tín hiệu rời rạc dưới dạng mã nhị phân 0,1 và có thể được lưu trữ, truy cập qua máy tính, mạng máy tính. b/ Phân loại tài liệu số Về mặt nguồn gốc, TLS có thể được chia thành 2 loại ~ Tài liệu mang đặc trưng số ngay từ khi được tạo ra qua các phương tiện tạo. tài liệu số như đánh máy trên máy tính điện tử, chụp ảnh, quay phim từ máy ảnh số, máy quay video số, ~ Tài liệu số được số hóa từ tài liệu in trên giấy thông qua các phương tiện số hóa hay chuyển đổi dữ liệu như máy quét (seanner), chuyên đổi tài liệu từ dạng tương tự sang dạng số. Về mặt lưu trữ có thê chia tài liệu số thành hai dạng chính: 1⁄ TLS được lưu trên CD-ROM, DVD va 2/ TLS tài số truy cập trực tuyến trên mạng internet hay intranet như các cơ: sở dữ liệu (CSDL) trực tuyến.
Đặc trưng tài liệu số Tài liệu số là một loại hình tài liệu đặc biệt, chúng có một số đặc trưng cơ bản sau đây: ~ Mật độ thông tin rất cao TLS duge lưu trữ dưới nhiều vật mang tin khác nhau, có dung lượng lưu tr thông tin rất lớn. Một số thiết bị lưu trữ thông tin dưới dạng số phổ biến hiện nay nhu: 6 dia citng, dia DVD, CD-ROM, dia CD-RW ~ Tỉnh đa truy cập 12 TLS tao khả năng truy cập theo nhiều dấu hiệu khác nhau, cho phép nhiều người dùng truy cập tại cùng một thời điểm mà không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, vị trí địa lý. Người dùng tin có thể tra cứu tài liệu từ xa, ở bắt cứ đâu chỉ cần máy tính hoặc điện thoại di động có nói mạng internet. ~ Tra cứu nhanh chóng, thuận tiện và chính xác Người dùng tin có thể tra tìm tài liệu theo nhiều dấu hiệu khác nhau khi truy cập mạng đề tìm kiếm tài liệu.
Một số yếu tố cơ bản giúp người dùng tin tìm kiếm tai liệu đễ dàng như: tên tài liệu, tên tác giả, từ khoá, năm xuất bản,. Với các quy tắc biên mục tài liệu được sử dụng trong nhiều thư viện hiện nay như: AACR2, ISBD,. cùng với các trường của MARC2I đã giúp cho người dùng tin có thể tìm kiếm tài liệu theo một hoặc nhiều dấu hiệu liên quan tới tài liệu. Ngoài ra, để biên mục tài liệu điện tử cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dùng tin có thể tra cứu tài liệu nhanh chóng và chính xác 15 yếu tố của Dublin Core được sử dụng.
trong mô tả tài nguyên điện tử ~ Tỉnh cập nhật Thông tin chứa trong TLS luôn mới vì chúng có thể được cập nhật nhanh chóng, kịp thời chỉ bằng vài thao tác, không mất nhiều thời gian, công sức. Ngày nay, thông tin luôn luôn biến đổi không ngừng do đó việc cập nhật, đổi mới nội dung thông tin hàng ngày, hàng giờ, thậm chí là từng phút, từng giây là hết sức quan trọng. Các CSDL online hiện nay cũng không ngừng cập nhật các bài viết, các tài liệu mới về các ngành khoa học đang phát triển mạnh. ~ Tính sinh động, hắp dẫn của thông tin TLS có thê lưu trữ thông tin theo nhiều định dạng khác nhau như: dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh, video,.
Do đó thông tin trở nên hấp dẫn, sinh động, lôi cuốn người sử dụng hơn. Nó giúp cho người dùng tin yêu thích sử dụng loại hình tài liệu này, dễ tiếp thu nội dung thông tin chứa đựng trong tài liệu đó hơn. ~ Thông tin phản hôi đa chiều TLS tao kénh théng tin phan héi đa chiều có nghĩa là người dùng tin có thể liên hệ trực tiếp, nhanh chóng với tác giả hay người tạo lập, quản lý nguồn tin (quản B trị viên hay Admin). Điều này đối với tài liệu truyền thống khó có thê thực hiện được a/ Các ưu điểm của tài liệu số ~ Khả năng kiểm soát tài nguyên thông tin ở TLS là rất mạnh, thông tin được kiểm soát ở nhiều cấp độ khác nhau trong hệ thống thông tin.
~ Tiết kiệm diện tích không gian kho lưu trữ. - TLS giúp bảo vệ an toàn và kéo dài tuôi thọ của tài liệu gốc, đặc biệt là các tài liệu quý hiếm, đơn bản, tài liệu ¡n ấn có giá trị, giá thành cao. Khi được số hoá. thành TLS các tài liệu này được bảo quản cần thận, có thể chỉ đưa ra phục vụ cho những đối tượng người dùng tin cụ thể.
Nếu không tiến hành số hoá các tài liệu có giá trị, quý hiếm sẽ bị hạn chế đối tượng người sử dụng hoặc không được đưa ra sử dụng do lo sợ nguy cơ bị cắt xén, huỷ hoại, mắt mát. b/ Các hạn chế của tài liệu số - Tinh én định không cao. TLS trên các vật mang tin như CD-ROM được bảo quản cần thận có tính ôn định, tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, các TLS trên mạng, duy trì CSDL online phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố do đó cho tới hiện nay nhiều chuyên gia TT-TV cũng chưa dám khăng định về tuổi thọ TLS cũng như phương thức số hoá có là giải pháp quản trị thông tin tốt nhất không.
~ Tính an toàn thông tin của TLS rất kém do việc sao chép thông tin rất dễ dàng, nhanh chóng. Đặc biệt là các thông tin trên mạng Internet dễ bị vi phạm bản quyền, thậm chí còn bị làm sai lệch nội dung thông tin, tung tin xấu gây nên nhiễu tin, tạp tin. Trong quá trình sử dụng người dùng tin có thể vô tình hoặc cố ý nhưng. đã gây nên hiện tượng mắt tin, huỷ hoại hoàn toàn thông tin như thông tin do hacker phá hoại bằng đột nhập, xoá bỏ, huỷ hoại thông tin, phán tán thông tin sai lệch, virut,.
Hiện nay chưa có biện pháp nào dé ngăn chặn hiệu quả việc xâm nhập, vi phạm thông tin trên. Vai trò của tài liệu số trong hoạt động của các thư viện. Ngày nay, nguồn tài liệu số đang giữ vai trò quan trọng, làm thay đổi về chất hoạt động giao lưu thông tin nói chung và hoạt động TT-TV nói riêng. 4 - Tài liệu số là "hạt nhân ” của thư viện số.
Thư viện số là một kho thông tin số hoá, được cấu trúc đề đễ dàng truy cập thông qua các mạng máy tính hay các mạng viễn thông. Số hoá toàn văn tài liệu và xây dựng bộ sưu tập số là lựa chọn tối ưu để bảo tồn lâu đài các tai liệu gốc quý hiếm, ngăn chặn những rủi ro, huỷ hoại do thời gian, thiên tai. Đối với hoạt động đào tạo và học tập trong trường đại học, bộ sưu tập số cũng góp phần phục vụ hiệu quả cho công cuộc đôi mới và nâng cao chất lượng đào. tạo, đặc biệt là đào tạo theo tín chỉ, đảo tạo trực tuyến.
Ngoài ra, nhờ đó, việc “học tập suốt đời” được khuyến khích vì người học có thê tham khảo tài liệu ở bất kỳ đâu, bất kỳ thời gian nào thuận tiện với ho. Phần cốt lõi của thư viện số là kho tài liệu số hay tập hợp của các bộ sưu tập số. Vì vậy, việc phát triển kho tài liệu số là công việc quan trọng hàng đầu trong xây dựng Thư viện só. ~ Tài liệu số là tiên đề hình thành và phát triển ngành xuất bản điện tử.
Tài liệu số ra đời đã góp phần làm thay đổi diện mạo ngành xuất bản với hàng. loạt sản phâm mới được tung ra thị trường với tên gọi loại hình là” ấn phẩm điện tử” hay “xuất bản phẩm điện tử”. Các loại hình xuất bản phẩm điện tử có trên thị trường hiện nay là sách điện tir (E-Book) và các báo, tạp chi dign tir (E-Journal) ~ Tài liệu số là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngành công nghiệp nội dụng số. Sự phát triển có tính chất bùng nỗ của các nguồn tài liệu số trong những năm.
gan day đã dẫn đến hình thành khái niệm “nồi đưng số” và kéo theo đó là sự ra đời của ngành công nghiệp nội dung số. Dữ liệu và siêu dữ liệu 1.Dữ liệu 'Dữ liệu (data) là hình thức thể hiện của thông tin trong mục đích lưu trữ và xử. Thuật ngữ “dữ liệu” có nguồn gốc từ chữ Hán - Việt với ý nghĩa là 'cái đã cho ” hay Từ tương ứng trong tiếng anh (data) là số nhiều của. từ "datum” trong tiếng Latinh, tiếng Pháp (donneé) cũng đều mang nghĩa là "cái đã 15 cho”.
Về mặt lịch sử, khái niệm dữ liệu xuất hiện cùng với việc xử lý thông tin bing máy tính. Vì thể trong nhiều tài liệu, người ta còn định nghĩa dữ liệu là đối tượng xử lý của máy tính. Thông tin luôn mang một ý nghĩa xác định nhưng hình thức thể hiện của thông tin rõ ràng mang tính quy ước. Chẳng hạn ký hiệu “V” trong hệ đếm La mã mang ý nghĩa là 5 đơn vị nhưng trong hệ thống chữ La tỉnh nó mang ý nghĩa là chữ cái V.
Trong máy tính điện tử, nhóm 8 chữ số 01000001, nếu là số sẽ thể hiện số 65, còn nếu là chữ sẽ là chữ “A”. Trong tir dién Oxford Dictionary, dữ liệu xem như là các sự kiện, thông tin được sử dụng để nghiên cứu, tìm hiểu nhằm đưa ra các quyết định, mặt khác, dữ liệu cũng là những thông tin được lưu giữ trong máy tính. Người đồng sáng lập ra World Wide Web là Tim Berners — Lee lại cho rằng, “dữ liệu không phải là thông tin, thông tin không phải là kiến thức, kiến thức không phải là sự hiểu biết, sự hiểu biết không phải là trí khôn”; ông khẳng định, nếu sắp xếp theo mô hình tam giác, trong đó trí khôn của con người là đỉnh tam giác, rồi lần lượt đến sự hiểu biết, kiến thức, thông tin thì dữ liệu chính là đáy tam giác và nó chính là nền tảng cho các thông tin, sự hiểu biết, kiến thức.9] Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của luận văn này, dữ liệu sẽ được hiểu là các thông tin, các kiến thức chứa trong các tài liệu dạng số hay điện tử. Siêu dữ liệu (metadafa) 1.
Định nghĩa Thuật ngữ *Meta”, có xuất xứ là một từ Hy Lạp dùng để chỉ một cái gì đó có bản chất cơ bản hơn hoặc cao hơn, "siêu” hơn. Vì vậy, một định nghĩa ngắn nhất, chung nhất và tông quát nhất cho siêu dữ. liệu là “dữ liệu về dữ liệt Theo tién sy Warwick Cathro (Thu viện Quốc gia Úc), "siêu dữ liệu là những.