Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong thế kỷ XXI, sự bùng nổ thông tin và sự phát triển của nền kinh tế tri thức đã khẳng định vai trò chiến lược của nguồn lực thông tin trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông tác động trực tiếp đến ngành Thông tin – Thư viện (TT-TV), đưa tự động hóa (TĐH) trở thành xu hướng tất yếu nhằm thay thế dần lao động thủ công, tối ưu hóa quy trình xử lý nghiệp vụ, nâng cao năng suất và đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dùng tin.
Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội (gọi tắt là Trung tâm) là một trong những đơn vị tiên phong ứng dụng công nghệ thông tin và hiện đại hóa hoạt động thư viện đại học tại Việt Nam. Việc đưa các trang thiết bị kỹ thuật cùng hệ thống phần mềm quản trị tích hợp vào vận hành đã làm thay đổi căn bản diện mạo và phương thức phục vụ của đơn vị. Để đánh giá toàn diện quá trình chuyển đổi này, tác giả Nguyễn Thị Như Huyền (Khoa Thông tin – Thư viện) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Tìm hiểu công tác tự động hóa tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội”.
Mục tiêu nghiên cứu:
Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự động hóa trong hoạt động TT-TV, khảo sát và phân tích thực trạng triển khai TĐH tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, từ đó đánh giá ưu nhược điểm và đề xuất các giải pháp định hướng nhằm đẩy nhanh tiến trình TĐH, nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất: Tìm hiểu tổng quan về Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội và làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến tự động hóa công tác TT-TV.
- Thứ hai: Khảo sát chi tiết việc triển khai tự động hóa các khâu nghiệp vụ tại Trung tâm.
- Thứ ba: Đánh giá, nhận xét khách quan về ưu điểm, hạn chế và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác TĐH tại đơn vị.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tự động hóa các hoạt động thông tin – thư viện tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Trụ sở chính (144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội) và các cơ sở trực thuộc (Khu vực Thượng Đình, Ký túc xá Mễ Trì, 19 Lê Thánh Tông, cơ sở Trường Đại học Ngoại ngữ).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát dữ liệu từ khi thành lập Trung tâm (năm 1997) đến thời điểm thực hiện khóa luận (năm 2009–2010).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận và khung pháp lý:
- Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác sách báo, thư viện.
- Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học – công nghệ và ứng dụng công nghệ thông tin.
- Quyết định số 688/QĐ ngày 14/7/1986 của Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học.
- Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thư viện do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành ngày 21/4/1998 và Quyết định số 947/TCCB về cơ cấu tổ chức.
- Các chuẩn nghiệp vụ thư viện quốc tế: Khổ mẫu biên mục đọc máy MARC 21, Quy tắc biên mục Anh – Mỹ (AACR2), chuẩn trao đổi dữ liệu ISO 2709, giao thức tìm kiếm phân tán Z39.50, OAI-PMH, giao thức mượn liên thư viện ISO 10161, chuẩn mượn trả tự động SIP 2, cùng các khung phân loại DDC, BBK, UDC.
Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả kết hợp bốn phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích các văn bản quy định, báo cáo tổng kết, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật của Trung tâm và các công trình nghiên cứu liên quan.
- Phương pháp quan sát trực tiếp: Ghi nhận thực tế quy trình vận hành máy móc, trang thiết bị chuyên dụng và các phân hệ phần mềm tại các phòng nghiệp vụ và phòng phục vụ bạn đọc.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu: Tập hợp và phân loại các chỉ số định lượng về cơ sở vật chất, mạng máy tính, cơ sở dữ liệu và cơ cấu nhân lực.
- Phương pháp trao đổi chuyên gia: Phỏng vấn, tiếp thu ý kiến từ cán bộ quản lý và cán bộ nghiệp vụ trực tiếp vận hành hệ thống tại Trung tâm.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập trực tiếp tại Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐHQGHN, bao gồm các hồ sơ kiểm kê, số liệu máy chủ, hệ thống biểu ghi cơ sở dữ liệu trên phần mềm Libol 5.5 và các báo cáo thống kê nhân sự tính đến ngày 31/12/2009.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Vai trò của công tác tự động hóa tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương này trình bày lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, nguồn lực thông tin, đặc điểm người dùng tin và hệ thống hóa lý luận về TĐH thư viện.
1. Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức:
Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập theo Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ. Ngày 14/02/1997, Giám đốc ĐHQGHN ký Quyết định số 66/TCCB thành lập Trung tâm Thông tin – Thư viện trên cơ sở hợp nhất thư viện của ba trường: Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm Hà Nội I và Đại học Sư phạm Ngoại ngữ (đến ngày 12/10/1999, Đại học Sư phạm Hà Nội I tách khỏi ĐHQGHN và bộ phận thư viện tương ứng được bàn giao lại). Trung tâm là đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và là đơn vị dự toán cấp III.
Về nhân sự, tính đến 31/12/2009, Trung tâm có 142 cán bộ công nhân viên chức, trong đó 89 cán bộ thuộc biên chế:
| Trình độ đào tạo |
Số lượng (người) |
| Tiến sĩ |
1 |
| Thạc sĩ |
12 |
| Cử nhân |
71 |
| Cao đẳng |
2 |
| Trung cấp |
3 |
| Tổng số cán bộ biên chế |
89 |
Bộ máy tổ chức gồm: Ban Giám đốc, Khối phòng chức năng (Hành chính, Tài vụ, Thiết bị bảo hành), Khối phòng chuyên môn (Bổ sung – Trao đổi, Biên mục, Thông tin – Nghiệp vụ, Máy tính và Mạng, Bộ phận Phát triển tài nguyên số) và Khối phòng phục vụ bạn đọc (Phòng Phục vụ chung nhà 7 tầng, Phòng KHXH&NV và KHTN tại Mễ Trì và 19 Lê Thánh Tông, Phòng Phục vụ Trường ĐH Ngoại ngữ).
2. Tiềm lực thông tin của Trung tâm:
- Tài liệu in ấn: 128.145 tên tạp chí (gần 140.000 cuốn); giáo trình của 60 ngành đào tạo; 500 đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQG, cấp Bộ, cấp Nhà nước; hơn 2.000 luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ; tài liệu nghe nhìn (cassette, video, CD-ROM, vi phim, vi phiếu); tài liệu Hán Nôm và thác bản văn bia.
- Cơ sở dữ liệu (CSDL) nội sinh: CSDL Sách (127.000 biểu ghi), CSDL Tạp chí (2.145 biểu ghi), CSDL Khoa học công nghệ (3.500 biểu ghi), CSDL Công trình khoa học kỷ niệm 100 năm ĐHQGHN (16.000 biểu ghi), CSDL môn học và CSDL bài trích tạp chí ĐHQGHN (gần 1.000 biểu ghi tóm tắt).
- CSDL trực tuyến và CD-ROM: Các CSDL offline (Wilson, Derwent, Econlit) và hệ thống CSDL trực tuyến quy mô lớn (Omnifile với 1.420 tạp chí toàn văn; EBSCO với hơn 17.000 tạp chí; Blackwell-Synergy với 750 tạp chí; SIAM; Project Euclid; ACM; IEEE CS; SpringerLink; 4 CSDL sách điện tử CRC gồm MathnetBASE, ITKnowledgenetBASE, NanonetBASE, MaterialnetBASE; Ebrary với hơn 1.000 sách điện tử; ASME với 20 tạp chí).
3. Phân loại nhóm người dùng tin:
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý: Nhu cầu thông tin tổng quát, thông tin chỉ đạo điều hành, các báo cáo tổng quan/tổng luận phục vụ ra quyết định và tư vấn chính sách.
- Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy: Nhu cầu thông tin chuyên sâu, cập nhật thành tựu KH-CN mới, tài liệu ngoại văn chuyên ngành, bài giảng điện tử.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chiếm tỷ lệ lớn nhất; nhu cầu gắn liền với chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu tham khảo, luận văn, tài liệu môn học.
- Cán bộ nghiệp vụ của Trung tâm: Nhu cầu về tài liệu chuyên môn thư viện học, công nghệ thông tin và quản trị tri thức.
4. Khái niệm và vai trò của TĐH thư viện:
TĐH trong hoạt động TT-TV là việc ứng dụng CNTT, truyền thông và trang thiết bị hiện đại nhằm nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu sai sót thủ công, rút ngắn chu trình tài liệu, chuẩn hóa dữ liệu theo thông lệ quốc tế và mở rộng khả năng tiếp cận tài nguyên không biên giới cho người dùng tin.
Chương 2: Thực trạng công tác tự động hóa trong hoạt động thông tin – thư viện tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 2 phân tích hạ tầng kỹ thuật, việc ứng dụng các phần mềm chuyên ngành và tiến trình TĐH từng khâu nghiệp vụ.
1. Hạ tầng kỹ thuật và trang thiết bị:
- Hệ thống mạng: Mạng LAN thiết kế theo cấu trúc hình sao với hơn 100 nút mạng tại tòa nhà trung tâm 7 tầng (144 Xuân Thủy). Mạng LAN liên thông được triển khai tại 4/5 cơ sở: 144 Xuân Thủy (xây dựng năm 2001), 336 Nguyễn Trãi (năm 2004), số 1 Phạm Văn Đồng (năm 2005) và KTX Mễ Trì (năm 2006). Mạng WAN kết nối Internet qua đường Lease Line cáp quang Viettel dung lượng 4 Mbps, sử dụng dải 30 IP tĩnh.
- Máy chủ và máy trạm: Toàn Trung tâm vận hành 7 máy chủ (5 máy tại 144 Xuân Thủy gồm máy chủ Web, Data, Nghiệp vụ; 2 máy tại 336 Nguyễn Trãi điều hành hệ thống tra cứu và nghiệp vụ), sử dụng hệ điều hành Windows 2000 Advanced Server và Windows Server 2003, hệ quản trị CSDL Microsoft SQL Server 2000. Hệ thống có gần 200 máy trạm chạy hệ điều hành Windows XP, 10 Switch và 28 Hub.
- Thiết bị an toàn thông tin và ngoại vi: 02 bộ lưu điện (UPS), 01 tủ điện phân phối nguồn, 01 bộ thiết bị cắt lọc sét, 01 hệ thống tiếp địa, 04 ổn áp, 35 máy in laser A4, 10 máy photocopy và 02 máy ép plastic.
- Thiết bị chuyên dùng TT-TV:
- 01 hệ thống cổng từ an ninh tại tầng 1 nhà Trung tâm.
- Hệ thống camera quan sát tại các phòng phục vụ.
- 50 đầu đọc mã vạch, 05 máy in mã vạch chuyên dụng, 15 máy quét phẳng A4.
- Máy quét số hóa tự động Kirtas APT BookScan 1600™: Trang bị camera kỹ thuật số Canon EOS-1Ds Mark II (độ phân giải 16,7 triệu điểm ảnh), ống kính EF tiêu cự 24–70mm, độ phân giải quét từ 300 ppi đến 600 ppi; công nghệ nôi đỡ SmartCradle™ giữ sách mở cố định góc 110 độ; cánh tay robot lật giở chân không SureTurn™ và cảm biến kiểm soát trang Page Edge Sensor kết hợp Page Separator, cho tốc độ số hóa đạt tới 1.600 trang/giờ.
2. Tiến trình chuyển đổi phần mềm quản trị:
- Giai đoạn 1993–2001: Ứng dụng phần mềm CDS/ISIS 3.0 (UNESCO) chạy trên nền MS-DOS. Dù đã xử lý được hơn 43.000 biểu ghi nhưng CDS/ISIS bộc lộ hạn chế: sử dụng chuẩn biên mục CCF đã lỗi thời, không hỗ trợ tốt mô hình khách/chủ (Client/Server), tra cứu phức tạp phải kết hợp Microsoft Access 97, các phòng nghiệp vụ không liên thông dữ liệu.
- Giai đoạn 2001 đến nay: Cuối năm 2001, trong khuôn khổ Dự án Giáo dục Đại học, Trung tâm tiếp nhận phần mềm Libol 5.0 (Công ty Tinh Vân) và nâng cấp lên Libol 5.5 vào năm 2004. Libol 5.5 chạy trên nền tảng Web, tương thích chuẩn MARC 21, AACR2, ISO 2709, giao thức Z39.50.
| Phân hệ Libol 5.5 |
Chức năng nghiệp vụ chính |
Trạng thái tại Trung tâm |
| Bổ sung |
Quản lý quy trình đặt mua, kiểm nhận, phân kho, gán số ĐKCB, in nhãn/mã vạch, kiểm kê. |
Đang vận hành |
| Biên mục |
Biên mục chi tiết/sơ lược theo MARC 21, AACR2; kiểm tra hợp lệ; in phích, xuất nhập ISO 2709. |
Đang vận hành |
| Ấn phẩm định kỳ |
Quản lý đặt mua, đăng ký số, đóng tập, khiếu nại báo/tạp chí. |
Đang vận hành |
| Bạn đọc |
Quản lý hồ sơ, cấp thẻ, phân quyền và áp dụng chính sách bạn đọc. |
Đang vận hành |
| Lưu thông |
Quản lý mượn/trả tự động qua mã vạch, thống kê phạt, lưu thông liên kho. |
Đang vận hành |
| OPAC |
Cổng tra cứu trực tuyến đa tiêu chí (tác giả, nhan đề, từ khóa, môn loại) cho người dùng tin. |
Đang vận hành |
| Tư liệu điện tử |
Quản trị, lưu trữ và phục vụ tài liệu số hóa nội sinh. |
Đang vận hành |
| Quản lý |
Phân quyền người dùng, thiết lập tham số hệ thống, giám sát nhật ký. |
Đang vận hành |
| Phát hành |
Quản lý đơn đặt hàng, trao đổi và bán ấn phẩm/tài liệu điện tử qua mạng. |
Chưa đưa vào sử dụng |
| Mượn liên thư viện (ILL) |
Giao dịch trao đổi tài liệu liên thư viện theo chuẩn ISO 10161. |
Chưa đưa vào sử dụng |
Các phần mềm chuyên dụng khác đang phối hợp vận hành: Phần mềm điều hành tác nghiệp nội bộ; Phần mềm quản lý cán bộ khoa học của Bộ Giáo dục & Đào tạo (áp dụng từ năm 2007); Phần mềm kế toán Thành Đạt (áp dụng từ năm 2004).
3. Thực trạng TĐH các quy trình nghiệp vụ cốt lõi:
- Công tác bổ sung: Tự động hóa khâu lập đơn đặt hàng qua Z39.50 Gateway giúp kiểm tra trùng lặp biểu ghi; thực hiện biên mục sơ lược các trường cơ bản (100: Tác giả, 245: Nhan đề, 260: Xuất bản, 300: Đặc trưng số lượng); tự động sinh số đăng ký cá biệt (ĐKCB) theo quy tắc từng kho (hơn 50 kho phân loại theo chuyên ngành, ngôn ngữ, vị trí); in trực tiếp số ĐKCB ra file bảng tính và in mã vạch theo lô; hỗ trợ kiểm kê kho nhanh chóng bằng thiết bị đọc mã vạch.
- Công tác biên mục: Tiến hành trực tiếp trên máy tính theo chuẩn MARC 21 và quy tắc AACR2.
- Biên mục gốc: Tạo lập biểu ghi cho xuất bản phẩm trong nước, luận án, luận văn; hệ thống tự động kiểm tra lỗi định dạng (ví dụ: phát hiện lỗi nhập nhãn trường con như
653a và yêu cầu sửa thành 653$a), kiểm tra chính tả và tính nhất quán dữ liệu.
- Biên mục sao chép (Copy Cataloging): Sử dụng giao thức Z39.50 kết nối trực tiếp đến CSDL của Thư viện Quốc hội Mỹ, Thư viện Quốc gia Úc để tải biểu ghi sách ngoại văn (đặc biệt là sách tài trợ từ Quỹ Châu Á), sau đó chỉ cần bổ sung các trường đặc thù của Trung tâm (số ĐKCB, ký hiệu xếp giá kho mở, từ khóa tiếng Việt), giúp tiết kiệm thời gian và đảm bảo độ chính xác của ngữ liệu gốc.
- Công tác tổ chức quản lý và phục vụ: TĐH quy trình mượn/trả tài liệu thông qua phân hệ Lưu thông tích hợp đầu đọc mã vạch và cổng từ an ninh; cung cấp mục lục trực tuyến OPAC cho phép bạn đọc tra cứu trạng thái tài liệu (sách rỗi/bận, vị trí kho) theo thời gian thực.
Chương 3: Một số nhận xét và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tự động hóa tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, khóa luận nêu ra các đánh giá tổng hợp và đề xuất giải pháp:
Nhận xét, đánh giá:
- Ưu điểm: Trung tâm đã xây dựng được cơ sở hạ tầng CNTT tương đối hoàn chỉnh; việc áp dụng thành công phần mềm Libol 5.5 và chuẩn MARC 21 tạo bước chuyển biến lớn từ phương thức thủ công sang tự động hóa tích hợp, nâng cao độ chính xác trong xử lý nghiệp vụ, kiểm soát chặt chẽ tài nguyên thông tin và tăng năng suất lao động của cán bộ.
- Hạn chế: Hệ thống mạng LAN chưa được phủ kín toàn bộ các cơ sở (cơ sở Khoa Hóa 19 Lê Thánh Tông chưa có mạng LAN liên thông); do khoảng cách địa lý và đường truyền mạng giai đoạn đầu chưa đồng bộ nên có thời điểm phải duy trì 2 CSDL Libol riêng biệt tại 144 Xuân Thủy và 336 Nguyễn Trãi, gây khó khăn cho quản trị hệ thống; hai phân hệ quan trọng của Libol 5.5 là Phát hành và Mượn liên thư viện (ILL) chưa được đưa vào vận hành; chưa tổ chức được phòng đọc riêng cho cán bộ nghiên cứu tài liệu ngoại văn quý hiếm.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Hoàn thiện mạng LAN tại cơ sở 19 Lê Thánh Tông và tối ưu hóa hạ tầng kết nối liên thông thống nhất toàn bộ các điểm phục vụ trên một hệ CSDL duy nhất.
- Đẩy mạnh công tác số hóa tài liệu nội sinh bằng việc khai thác tối đa công suất của máy quét Kirtas APT BookScan 1600™ nhằm xây dựng CSDL toàn văn.
- Đưa vào vận hành hoàn chỉnh 2 phân hệ còn lại của Libol 5.5 (Phát hành và Mượn liên thư viện ILL) để tăng cường chia sẻ nguồn lực thông tin với các thư viện đại học trong nước và quốc tế (AUNILA).
- Đẩy mạnh phương thức biên mục sao chép qua Z39.50 nhằm giảm tải thời gian xử lý kỹ thuật tài liệu ngoại văn.
- Tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao trình độ CNTT, chuẩn nghiệp vụ quốc tế và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ thư viện.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn bộ bức tranh TĐH của Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐHQGHN qua các mốc thời gian, từ việc sử dụng máy tính cá nhân đơn lẻ (năm 1990) đến hệ thống phần mềm quản trị tích hợp Libol 5.5.
- Cung cấp số liệu thống kê chi tiết về hiện trạng cơ sở vật chất (7 máy chủ, gần 200 máy trạm, 50 đầu đọc mã vạch, 35 máy in, 10 máy photocopy), tiềm lực thông tin (hơn 128.000 tên tạp chí, 127.000 biểu ghi CSDL sách, 16.000 biểu ghi công trình NCKH) và nguồn nhân lực (142 cán bộ, 89 biên chế với tỷ lệ 82% đạt trình độ đại học và sau đại học).
- Phân tích chi tiết quy trình tự động hóa các khâu bổ sung, biên mục (gốc và sao chép), quản lý lưu thông và số hóa tài liệu với các thông số kỹ thuật chuẩn xác.
Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: Bổ sung tài liệu tham khảo có hệ thống về mô hình tổ chức và quy trình tự động hóa hoạt động TT-TV trong môi trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Giúp lãnh đạo và cán bộ Trung tâm có căn cứ thực tế để hoàn thiện các khâu nghiệp vụ, khắc phục những điểm nghẽn về hạ tầng mạng và khai thác triệt để các phân hệ phần mềm; đồng thời cung cấp kinh nghiệm thực tế hữu ích cho các cơ quan TT-TV đại học khác trong quá trình chuẩn bị hoặc triển khai tự động hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào trụ sở chính 144 Xuân Thủy và cơ sở 336 Nguyễn Trãi; khảo sát tại các điểm phục vụ vệ tinh (đặc biệt là điểm 19 Lê Thánh Tông) chưa có nhiều dữ liệu do hạ tầng mạng thời điểm đó chưa kết nối hoàn chỉnh. Khóa luận chưa đi sâu đánh giá hiệu quả kinh tế hoặc đo lường mức độ thỏa mãn định lượng của từng nhóm người dùng tin.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát, đánh giá quá trình triển khai phân hệ Mượn liên thư viện (ILL) theo chuẩn ISO 10161 và liên kết chia sẻ tài nguyên qua mạng lưới AUNILA.
- Nghiên cứu quy trình quản trị quyền tác giả và phân phối tài liệu số toàn văn trên phân hệ Tư liệu điện tử khi mở rộng phục vụ trực tuyến ra ngoài khuôn viên ĐHQGHN.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Thông tin – Thư viện, Quản trị Thông tin: Nắm bắt quy trình nghiệp vụ thực tế khi chuyển giao từ chuẩn cũ (CCF/CDS-ISIS) sang chuẩn quốc tế hiện đại (MARC 21/Libol/Z39.50).
- Cán bộ quản lý thư viện và kỹ sư CNTT ngành thư viện: Tham khảo mô hình thiết kế mạng LAN/WAN thư viện phân tán, phương án cấu hình máy chủ, quy trình triển khai máy số hóa chuyên dụng Kirtas APT BookScan và cách thức phân luồng biên mục gốc/sao chép.
- Phần giá trị nhất: Toàn bộ nội dung khảo sát chi tiết về quy trình TĐH công tác Bổ sung và Biên mục tại Chương 2, cùng các thông số kỹ thuật về thiết bị số hóa và phần mềm Libol 5.5.
Câu hỏi thường gặp
1. Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐHQGHN đã sử dụng phần mềm nào trước khi áp dụng Libol 5.5?
Trước khi triển khai Libol 5.0 (cuối năm 2001) và nâng cấp lên Libol 5.5 (năm 2004), Trung tâm sử dụng phần mềm CDS/ISIS 3.0 (UNESCO) chạy trên môi trường MS-DOS từ năm 1993, kết hợp với Microsoft Access 97 để hỗ trợ tra cứu.
2. Điểm khác biệt căn bản giữa chuẩn biên mục của CDS/ISIS và Libol 5.5 là gì?
CDS/ISIS sử dụng khổ mẫu CCF (Common Communication Format) đã cũ và không còn được cập nhật, trong khi Libol 5.5 xây dựng trên nền tảng Web, hỗ trợ đầy đủ khổ mẫu biên mục đọc máy quốc tế MARC 21, quy tắc AACR2 và chuẩn giao tiếp ISO 2709, Z39.50.
3. Máy quét chuyên dụng Kirtas APT BookScan 1600™ có những đặc điểm kỹ thuật nào nổi bật?
Máy được trang bị máy ảnh kỹ thuật số Canon EOS-1Ds Mark II 16,7 triệu điểm ảnh, ống kính EF 24–70mm, độ phân giải 300–600 ppi; sử dụng công nghệ SmartCradle™ mở sách ở góc 110 độ để bảo vệ tài liệu quý hiếm; tay hút chân không SureTurn™ lật từng trang tự động cùng hệ thống cảm biến Page Edge Sensor, cho tốc độ số hóa lên đến 1.600 trang/giờ.
4. Trung tâm đã triển khai bao nhiêu phân hệ của phần mềm Libol 5.5 tại thời điểm nghiên cứu?
Trung tâm đã đưa vào vận hành 8/10 phân hệ (Bổ sung, Biên mục, Ấn phẩm định kỳ, Bạn đọc, Lưu thông, OPAC, Tư liệu điện tử, Quản lý). Hai phân hệ chưa đưa vào sử dụng là phân hệ Phát hành và phân hệ Mượn liên thư viện (ILL).
5. Khóa luận phân chia người dùng tin tại ĐHQGHN thành những nhóm đối tượng nào?
Gồm 4 nhóm chính: (1) Cán bộ lãnh đạo, quản lý; (2) Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; (3) Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên, học sinh; (4) Cán bộ làm việc tại chính Trung tâm Thông tin – Thư viện.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Như Huyền đã phản ánh một cách toàn diện, chân thực tiến trình tự động hóa hoạt động thông tin – thư viện tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm 1997 đến 2009. Công trình làm rõ những bước chuyển dịch căn bản về hạ tầng phần cứng, phần mềm quản trị tích hợp Libol 5.5 và việc chuẩn hóa nghiệp vụ theo tiêu chuẩn quốc tế MARC 21, AACR2. Các số liệu khảo sát thực tế và phân tích quy trình nghiệp vụ trong khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho công tác nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng tự động hóa thư viện đại học tại Việt Nam.