Thực trạng trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại trường trung học phổ thông Việt Nam Ba Lan, Hà Nội

Chuyên đề nghiên cứu Trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại trường THPT Việt Nam Ba Lan, Hà Nội: Thực trạng và, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về trầm cảm

1.2. Khái niệm trầm cảm

1.3. Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm

1.4. Chẩn đoán trầm cảm

1.5. Giới thiệu về học sinh THPT

1.6. Khái niệm học sinh THPT

1.7. Đặc điểm phát triển thể chất của học sinh THPT

1.8. Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh THPT

1.9. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở học sinh THPT

1.9.1. Cấp độ gia đình

1.9.2. Cấp trường học

1.9.3. Cấp cộng đồng

1.10. Một số yếu tố khác

1.11. Các nghiên cứu đã được thực hiện về sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT trên thế giới và Việt Nam

1.11.1. Trên thế giới

1.11.2. Tại Việt Nam

1.12. Giới thiệu thang đo trầm cảm ở trẻ em và một số thang đo liên quan

1.12.1. Thang đo lòng tự trọng Rosenberg (RSE)

1.12.2. Thang đo cảm nhận mức độ stress PSS – 10

1.13. Sơ lược về địa điểm nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu

2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.7. Các chỉ số và biến số nghiên cứu

2.8. Công cụ nghiên cứu và kỹ thuật thu thập thông tin

2.8.1. Công cụ nghiên cứu

2.8.2. Kỹ thuật thu thập thông tin

2.9. Xử lý và phân tích số liệu

2.10. Sai số và cách khắc phục

2.10.1. Sai số thông tin thường gặp

2.10.2. Cách khắc phục sai số thông tin

2.11. Đạo đức nghiên cứu

2.12. Hạn chế của nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm trầm cảm ở học sinh lớp 10 trường THPT Việt Nam – Ba Lan

3.3. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại trường THPT Việt Nam – Ba Lan

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm nhân khẩu học

4.3. Đặc điểm yếu tố học tập

4.4. Đặc điểm yếu tố cá nhân

4.5. Mức độ stress của học sinh

4.6. Mức độ lòng tự trọng của học sinh

4.7. Tỷ lệ trầm cảm ở học sinh lớp 10 trường THPT Việt Nam – Ba Lan

4.8. Tỷ lệ trầm cảm theo mức độ

4.9. Tỷ lệ trầm cảm theo giới tính

4.10. Tỷ lệ học sinh có suy nghĩ tự tử

4.11. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu

4.11.1. Các yếu tố nhân khẩu học liên quan đến trầm cảm

4.11.2. Các yếu tố cá nhân liên quan đến trầm cảm

4.11.3. Các yếu tố học tập liên quan đến trầm cảm

4.11.4. Các yếu gia đình liên quan đến trầm cảm

4.11.5. Yếu tố stress liên quan đến trầm cảm

4.11.6. Yếu tố lòng tự trọng liên quan đến trầm cảm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng trầm cảm ở học sinh lớp 10

Trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng, đặc biệt là ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Tại trường THPT Việt Nam Ba Lan, Hà Nội, tỷ lệ học sinh lớp 10 mắc trầm cảm đang gia tăng. Theo nghiên cứu, có khoảng 19,7% học sinh lớp 10 có dấu hiệu trầm cảm. Các triệu chứng bao gồm tâm trạng buồn bã kéo dài, mất hứng thú với các hoạt động, và khó khăn trong việc tập trung. Những yếu tố như áp lực học tập, mối quan hệ gia đình căng thẳng, và sự thiếu hụt hỗ trợ tâm lý đã góp phần làm gia tăng tình trạng này. Việc không phát hiện và can thiệp kịp thời có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy giảm chất lượng học tập và nguy cơ tự sát.

1.1. Nguyên nhân trầm cảm ở học sinh

Nguyên nhân gây ra trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại trường THPT Việt Nam Ba Lan rất đa dạng. Một số nguyên nhân chính bao gồm áp lực học tập, sự thay đổi trong mối quan hệ xã hội, và các vấn đề tâm lý cá nhân. Học sinh thường phải đối mặt với kỳ vọng cao từ gia đình và xã hội, dẫn đến cảm giác căng thẳng và lo âu. Ngoài ra, những trải nghiệm tiêu cực trong cuộc sống như mất mát, ly hôn của cha mẹ, hoặc bị bắt nạt cũng có thể là yếu tố kích thích trầm cảm. Theo nghiên cứu, những học sinh có lòng tự trọng thấp và cảm giác cô đơn thường có nguy cơ cao hơn mắc trầm cảm.

1.2. Dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm

Dấu hiệu trầm cảm ở học sinh lớp 10 thường không rõ ràng và dễ bị bỏ qua. Các triệu chứng phổ biến bao gồm cảm giác buồn bã kéo dài, mất hứng thú với các hoạt động thường ngày, và khó khăn trong việc tập trung vào học tập. Học sinh có thể trải qua rối loạn giấc ngủ, ăn uống không điều độ, và cảm giác mệt mỏi. Một số học sinh còn có suy nghĩ tiêu cực về bản thân và tương lai, dẫn đến nguy cơ tự sát. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có thể can thiệp kịp thời.

II. Giải pháp cho học sinh

Để giảm thiểu tình trạng trầm cảm ở học sinh lớp 10, cần có những giải pháp đồng bộ từ gia đình, nhà trường và cộng đồng. Trước hết, gia đình cần tạo ra một môi trường yêu thương và hỗ trợ, giúp học sinh cảm thấy an toàn và được chấp nhận. Nhà trường cũng nên tổ chức các chương trình giáo dục tâm lý, giúp học sinh nhận thức rõ hơn về sức khỏe tâm thần và cách quản lý cảm xúc. Bên cạnh đó, việc cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý tại trường học là rất cần thiết. Các chuyên gia tâm lý có thể giúp học sinh giải quyết các vấn đề cá nhân và học tập, từ đó giảm thiểu nguy cơ trầm cảm.

2.1. Tăng cường hỗ trợ tâm lý

Hỗ trợ tâm lý cho học sinh là một trong những giải pháp quan trọng nhất. Các chương trình tư vấn tâm lý tại trường học cần được triển khai rộng rãi, giúp học sinh có nơi để chia sẻ và giải tỏa cảm xúc. Các chuyên gia tâm lý có thể tổ chức các buổi hội thảo, chia sẻ kiến thức về sức khỏe tâm thần, và hướng dẫn học sinh cách đối phó với áp lực học tập. Việc tạo ra một không gian an toàn để học sinh có thể bày tỏ cảm xúc mà không sợ bị phán xét là rất cần thiết.

2.2. Tăng cường giáo dục sức khỏe tâm thần

Giáo dục sức khỏe tâm thần cần được đưa vào chương trình học chính thức tại trường THPT. Học sinh cần được trang bị kiến thức về trầm cảm, các dấu hiệu nhận biết, và cách tìm kiếm sự giúp đỡ. Việc nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần không chỉ giúp học sinh tự bảo vệ bản thân mà còn giúp họ trở thành những người hỗ trợ cho bạn bè khi cần thiết. Các hoạt động ngoại khóa như câu lạc bộ tâm lý cũng có thể được tổ chức để tạo cơ hội cho học sinh giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp thực trạng trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại trường trung học phổ thông việt nam ba lan thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề yêu đương quá sớm vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc học tập. Tình yêu của nam nữ thanh niên tạo ra nhiều cảm xúc: căng thẳng vì thiếu kinh nghiệm, vì sợ bị từ chối, vì vui sướng khi được đáp lại bằng sự yêu thương. Những biểu hiện của loại tình cảm này, nhìn chung rất phức tạp, không đồng đều [11,17] Trong thời kỳ này thường xảy ra sự mất ổn định trong các chức năng của hệ giao cảm – nội tiết, nên thường thấy những rối loạn chức năng của nhiều cơ quan như hay hồi hộp, tăng huyết áp, những rối loạn về thần kinh: 11 Luan van tính tình thay đổi, dễ lạc quan nhưng cũng dễ bi quan hay có những suy nghĩ bồng bột…Giai đoạn này trẻ thường ít bệnh tật hơn cả, tuy nhiên ý định tự tử, hành vi tự tử và các bệnh tâm thần lại xuất hiện nhiều [18]. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở học sinh THPT Các yếu tố nguy cơ của trẻ em và thanh thiếu niên được xem xét ở 4 cấp độ: cá nhân, gia đình, nhà trường và cộng đồng.

Ngoài ra còn có một số yếu tố nguy cơ khác. Học sinh trung học phổ thông đều có tất cả những yếu tố đó, Học sinh lớp 10 là những em mới chuyển cấp, mới bắt đầu một chương trình học mới, bắt đầu suy nghĩ về tương lai những vấn đề xung quanh xuất hiện nhiều lên vì thế càng tăng thêm các yếu tố nguy cơ dẫn đến trầm cảm nếu các em không được chăm sóc sức khỏe tinh thần một các chu đáo. Cấp độ cá nhân Ở cấp độ cá nhân, có ba yếu tố nguy cơ chính đối với thanh thiếu niên, với một số khác biệt giữa các nhóm tuổi và giới tính. Thứ nhất, sự cô lập/tự cô lập về cảm xúc là căn nguyên quan trọng đối với thanh thiếu niên lựa chọn không chia sẻ cảm xúc với ai, thường do trẻ muốn bảo vệ cha mẹ khỏi những lo âu.

Với trẻ vị thành niên lớn hơn, đặc biệt là các em gái, cảm giác cô lập xã hội là hậu quả của kết hôn sớm. Với những em gái khác trong cùng độ tuổi thì sự cô lập xã hội đến từ việc nghỉ học ngoài ý muốn và/hoặc do gánh nặng công việc gia đình. Thứ hai dẫn đến những nguy cơ về sức khỏe tâm thần được cho là có liên quan tới việc tiếp cận các công nghệ hiện đại và những nguy cơ của các hành vi trực tuyến gây nghiện đối với những trẻ có xu hướng “sử dụng quá nhiều”. Các em trai có xu hướng chơi trò chơi điện tử nhiều hơn các em gái, nhưng các em gái có nguy cơ bị rình rập và bắt nạt trên mạng nhiều hơn.

Thứ ba liên quan đến những quan niệm tiêu cực về đặc điểm thể chất vị thành niên. Những lo ngại bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn đầu của lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt ở những em gái lo lắng về chu kỳ kinh nguyệt hoặc những em bị coi là thừa cân. Những mối lo khác xoay quanh hình thể thấp bé, 12 Luan van dẫn đến việc bị chọc ghẹo, bêu tên và phân biệt đối xử trong các hoạt động thể thao tại trường học. Cấp độ gia đình Quy tắc quá nghiêm ngặt của gia đình, gia đình nghèo hoặc đang trong tình trạng kinh tế xã hội giảm sút, và những căng thẳng trong hộ gia đình được xác định là các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên.

Trẻ đối mặt với những kỳ vọng cao của cha mẹ, trẻ cũng sợ cha mẹ chỉ trích do bị điểm kém ở trường. Đối với những em thuộc giai đoạn giữa của lứa tuổi vị thành niên (trong khoảng từ 15 – 16 tuổi), “sự kiểm soát” của cha mẹ ví dụ như hạn chế trẻ ra ngoài với bạn, không chấp thuận các mối quan hệ tình cảm, kiểm soát việc sử dụng điện thoại di động, bắt trẻ ở nhà làm việc nhà, v. được xem là căn nguyên chính dẫn đến tình trạng căng thẳng ở trẻ. Gia đình nghèo hoặc đang trong tình trạng kinh tế – xã hội giảm sút cũng là yếu tố gây căng thẳng bởi trong những điều kiện như vậy, trẻ không có đủ thời gian học tập cũng như ít có điều kiện tham gia các lớp học thêm, dẫn đến kết quả học tập sa sút, thậm chí buộc phải thôi học.

Ngoài ra, kết hôn sớm, cũng đồng nghĩa với việc phải thôi học ở các em gái, cũng được xem như một trong những nguyên nhân dẫn đến nỗi buồn và trầm cảm cho các em. Áp lực gia đình muốn trẻ phải thể hiện xuất sắc ở trường, những xung đột trong hôn nhân, cha mẹ ly hôn, bạo lực gia đình từ phía người chồng, và thiếu giao tiếp giữa cha mẹ và con cái làm trầm trọng thêm những căng thẳng trong hộ gia đình và từ đó tác động đến sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên. Cấp trường học Căng thẳng do học tập, thiếu sự hỗ trợ và/hoặc môi trường học đường bất ổn, và gặp trở ngại trong các mối quan hệ tình cảm là những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên. Trẻ tự đặt kỳ vọng rất cao đối với bản thân, phải vượt trội so với 13 Luan van bạn bè, và do áp lực của gia đình muốn các em đạt thành tích tốt.

Những bất ổn trong môi trường học đường hiện diện thông qua tệ bắt nạt và mâu thuẫn giữa bạn bè đồng trang lứa. Xa gia đình và ở nội trú trong trường cũng là tác nhân gây căng thẳng, tương tự như việc thiếu đi các hoạt động giải trí hoặc sự động viên khích lệ thường xuyên của thầy cô giáo. Các mối quan hệ tình cảm, thường bắt đầu trong môi trường học đường, gây cho trẻ những căng thẳng bởi một mặt trẻ phải giấu diếm cha mẹ và thầy cô giáo – những người sẽ ngăn cấm trẻ, và mặt khác, những đổ vỡ và tình yêu đơn phương mang đến cho trẻ nỗi buồn, trầm cảm và thậm chí đôi khi là ý định và hành vi tự tử. Cấp cộng đồng Dễ dàng tiếp cận các độc chất, hạn chế trong tiếp cận các cơ hội kinh tế chủ yếu liên quan đến các cơ hội việc làm, và những chuẩn mực xã hội mang tính tiêu cực được xác định là các yếu tố ở cấp cộng đồng có ảnh hưởng tiềm tàng đến sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên.

Các chuẩn mực có hại dường như phổ biến hơn ở khu vực nông thôn, đặc biệt là khu vực miền núi nghèo khó ở phía Bắc, và có ảnh hưởng nhiều hơn đến các em gái. Đó là những chuẩn mực về kết hôn sớm – khiến các em gái buộc phải thôi học khi còn ít tuổi, về những gì em gái nên làm, về cách các em nên cư xử, về trang phục các em nên mặc và về những vai trò trong gia đình mà các em cần phải đảm nhiệm [15]. Một số yếu tố khác Trong 2 năm gần đây đại dịch COVID – 19 không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe thể chất mà cả sức khỏe tinh thần của người dân. Học sinh, sinh viên là một trong những đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Thực tế cho thấy, bên cạnh lo lắng về sự an toàn trong bối cảnh dịch bệnh, việc học tập trực tuyến kéo dài, thiếu sự tương tác với môi trường bên ngoài là những vấn đề mà học sinh, sinh viên cảm thấy áp lực nhất. Các em vừa phải trải qua thời gian biến chuyển tâm sinh lý lại vừa phải làm quen với việc chuyển đổi từ hình thức học trực tiếp sang gián tiếp, nhiều em điều kiện kinh tế gia đình trở nên khó khăn hơn, thậm chí có em còn mất cha mất mẹ do dịch bệnh, những sang chấn tâm lý là điều không thể tránh khỏi. Những tác động 14 Luan van tiêu cực của dịch bệnh dễ tạo nên cho các em biểu hiện căng thẳng tâm lý [20,21]. Các nghiên cứu đã được thực hiện về sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT trên thế giới và Việt Nam Trên thế giới và Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần đặc biệt là tình trạng trầm cảm ở học sinh khối trung học phổ thông.

Trên thế giới Tại Thổ Nhĩ Kỳ, tác giả Unsal Alaaddin nghiên cứu về tỷ lệ học sinh có triệu chứng trầm cảm ở học sinh trung học có 846 học sinh tham gia cuộc khảo sát. Trong nhóm nghiên cứu cho kết quả tỷ lệ mắc trầm cảm là 30,7% (n = 260), 22,6% ở nam (n = 99) và 39,6% ở nữ (n = 161) [22]. Tại Đài Loan, tác giả Huang – chi Lin và cộng sự nghiên cứu về trầm cảm và mối liên quan của nó với lòng tự trọng, các yếu tố gia đình, bạn bè, trường học ở thanh thiếu niên. Kết quả là trong số 9586 người tham gia, tỷ lệ trầm cảm là 12,3%.

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm bao gồm: giới tính nữ, tuổi lớn hơn, cư trú ở khu vực thành thị, lòng tự trọng thấp, hôn nhân cha mẹ đổ vỡ, thu nhập gia đình thấp, xung đột gia đình, chức năng gia đình kém hơn, ít hài lòng với các mối quan hệ đồng đẳng, ít kết nối với trường học và kết quả học tập kém [23]. Tại Chandigarh, tác giả Sandal Raman Kumar nghiên cứu về tỷ lệ trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở thanh thiếu niên đi học. Kết quả cho thấy tỷ lệ hiện mắc bệnh DAS (trầm cảm, lo âu, căng thẳng) lần lượt là 65,53%; 80,85% và 47,02%. Nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh đi kèm giữa trầm cảm và lo âu là 57,65%.

Rất ít trầm cảm nặng (3%). Tỷ lệ mắc DAS ở nữ cao hơn. Đối với chứng trầm cảm và lo lắng, độ tuổi đỉnh cao là 18 tuổi [24]. Một nghiên cứu về các nam sinh trung học tại Abha, Vùng Aseer, Ả Rập Xê Út.

Tác giả Al – gelban nghiên cứu này báo cáo về nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ phổ biến và mức độ nghiêm trọng của chứng trầm cảm, lo lắng và căng thẳng ở trẻ em trai vị thành niên Ả Rập Xê Út. Kết quả chỉ ra rằng trong số 1723 sinh viên nam được tuyển vào nghiên cứu này, 59,4% mắc ít 15 Luan van nhất một trong ba rối loạn, 40,7% mắc ít nhất hai và 22,6% mắc cả ba rối loạn. Hơn nữa, hơn một phần ba số người tham gia (38,2%) bị trầm cảm, trong khi 48,9% lo lắng và 35,5% bị căng thẳng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thực trạng trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại trường trung học phổ thông Việt Nam Ba Lan, Hà Nội" của tác giả Nguyễn Minh Nghĩa, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Viết Chung, đã chỉ ra những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe tâm thần của học sinh lớp 10 tại một trường trung học phổ thông ở Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng trầm cảm mà còn nêu bật những yếu tố tác động đến tâm lý học sinh, từ đó giúp các bậc phụ huynh, giáo viên và nhà quản lý giáo dục có cái nhìn rõ hơn về vấn đề này. Bài viết mang lại lợi ích cho độc giả bằng cách nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần trong môi trường học đường, đồng thời khuyến khích các biện pháp can thiệp kịp thời.

Để mở rộng thêm kiến thức về sức khỏe tâm thần của học sinh, bạn có thể tham khảo bài viết "Thực Trạng Sức Khỏe Tâm Thần Và Yếu Tố Liên Quan Của Học Sinh Trường Trung Học Phổ Thông Tại Nam Định Năm 2021", nơi cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh tại một địa phương khác. Ngoài ra, bài viết "Nguy cơ sử dụng ma túy ở học sinh trung học phổ thông: Thực trạng và giải pháp" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tâm lý học sinh. Cuối cùng, bài viết "Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre" sẽ cung cấp thêm góc nhìn về vai trò của giáo dục đạo đức trong việc hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho học sinh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần trong môi trường học đường.