CHƯƠNG 1 Chương 2. ĐÁNH GIÁ VA CAN THIỆP MỘT TRƯỜNG HỢP CÓ TRAI NGHIỆM BỊ BẮT NẠT 2. Thông tin chung về TC 2. Các van dé dao đức 2.
Đạo đức trong tiếp nhận ca lâm sàng 2. Đạo đức trong việc sử dụng các công cụ đánh giá và thực hiện quy trình đánh giá 2. Đạo đức trong can thiệp trị liệu 2. Đánh giá, chan đoán 2.
Mô tả ca 2. Kết quả đánh giá 2. Định hình trường hợp 2. Lập kế hoạch can thiệp 2.
Xác định mục tiêu đầu ra 2. Xác định các mục tiêu qua trình 2. Thực hiện can thiệp (trình bày theo phiên) 2. Phiên trị liệu thứ nhất 2.
Phiên trị liệu thứ hai 2. Phién trị liệu thứ ba 2. Phién trị liệu thứ tw 2. Phiên trị liệu thứ nam 2.
Phiên trị liệu thứ sảu 2. Phiên trị liệu thứ bay 2. Phiên trị liệu thứ tám 2. Phiên trị liệu thứ chín 2.
Phiên trị liệu thứ mười 2. Phiên trị liệu thứ mười một 2. Phiên trị liệu thứ mười hai 2. Phiên trị liệu thứ mười ba 2.
Phiên trị liệu thứ mười bốn 2. Phiên trị liệu thứ mười lam 2. Đánh giá hiệu quả can thiệp 2. Kết thúc ca và kế hoạch theo dõi sau can thiệp 2.
Tự đánh giá về chất lượng can thiệp KET LUẬN VÀ KHUYEN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC TỪ VIET TAT Từ viết tắt Y nghia TC Than chu HV Hoc vién TTN | Thanh thiếu niên GVCN. | Giáo viên chủ nhiệm MDD Rôi loạn trâm cảm chủ yêu PTSD Rôi loạn stress sau sang chân DSM -5 | Cam nang Chân đoán và Thông kê về các Rồi loan Tâm thân, Phiên bản 5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition) CDC Trung tâm kiêm soát va phòng ngừa dich bệnh Hoa Ky CBT Trị liệu nhận thức hành vi ICD-10 | Phiên bản thứ 10 của Phân loại thông kê quôc tế về các bệnh tật và van đề sức khỏe liên quan DASS-21 | Thang đo sàng lọc stress, lo âu, tram cảm DANH MỤC BANG BIEU Bang 1. Mục tiêu đầu ra. Đánh giá hiệu quả dựa trên các mục tiêu đầu ra.
Các mục tiêu dau ra và mục tiêu quá trình. Lý do lựa chọn đề tài Bắt nạt học đường hiện đang là một vấn nạn trong lĩnh vực giáo dục va của toàn xã hội. Với các số liệu được báo đài và truyền thông đưa tin, có thé thay tỷ lệ bắt nạt học đường trong những năm gần đây đang gia tăng nhanh chóng và diễn biến nghiêm trọng. Trong 5 năm (từ năm học 2017 - 2018 đến năm học 2021 - 2022), tổng số vụ bạo lực học đường xảy ra là 2.
Tính từ ngày 01/09/2021 đến 05/11/2023, cả nước xảy ra 699 vụ bạo lực học đường liên quan đến 2. Theo bao cáo của Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc tại Việt Nam (2018), cứ 3 học sinh trong độ tuổi 13-15 thì có 1 em bị bạo lực học đường. Nam nữ có nguy cơ bị bắt nạt như nhau nhưng trẻ gái có nhiều khả năng là nạn nhân của các hình thức bắt nạt tâm lý hơn, còn trẻ trai có nguy cơ bị bạo lực và đe dọa về thé chất. Số liệu của tổ chức Plan International và Trung tâm nghiên cứu quốc tế về phụ nữ (ICRW) (2015) khảo sát ở 5 quốc gia gồm Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan và Nepal cho thấy, cứ 10 hoc sinh thì có 7 em từng phải chịu bạo lực học đường.
Theo điều tra Giám sát hành vi rủi ro thanh thiếu niên (YRBSS) tại Mỹ năm 2019 của CDC Hoa Kỳ, có 15,7% trường hợp bạo lực trực tuyến và 19,5% trường hợp bị bạo lực ở trường. Kết quả của một số nghiên cứu trên thế giới (tại Đài Loan, Hàn Quốc, Kuwait, Ai Cập) cho thấy, tỷ lệ học sinh trung học cơ sở là thủ phạm bắt nạt học đường chiếm từ 10,9% đến 17% (Chen và Cheng, 2013; Kim và cs., 2004); là nạn nhân chiếm 10,7% đến 18,9% (Abdulsalam và cs., 2017; Chen và Cheng, 2013) và vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm là 5,5% đến 57,8% (Chen và Cheng, 2013; Galal và cs., 2019) Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra hậu quả nghiêm trọng và lâu dài của bắt nạt học đường đối với trẻ em và TTN. Các nạn nhân của bắt nạt có thể mắc các van đề về thé chất (thương tích, đau nhức,.), về sức khỏe tâm thần (tram cảm, stress sau sang chấn, lo âu, sợ hãi, tuyệt vọng.) (Gaffney va cs, 2019), sử dụng ma túy (Valdebenito va cs, 2015); về học tập (kết qua sa sút, mat tap trung, sợ đi học) (Strom và cs, 2013), trốn học (Gastic, 2008.); khó khăn trong các mỗi quan hệ xã hội (rút lui, mất lòng tin, khó kết bạn.) kéo dài đến tuôi trưởng 4 thành (Juvonen và cs, 2003; Kim và cs, 2004). Có mối quan hệ tiêu cực giữa các hình thức bị bắt nạt với mức độ stress tâm lý ở học sinh THCS (Hoàng Thế Hai và cs, 2020).
Nghiên cứu cua Taki (1992) trên học sinh TH và THCS ở Nhật Bản đã chứng minh những học sinh bị stress càng nhiều là những nạn nhân thường bị bắt nat. Một số nạn nhân có thé cố gắng chịu đựng hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác, nhưng một số không biết cách xử lý hoặc không có ai đề tin cậy. Đó là khi họ có thé nghĩ đến việc tự tử dé thoát khỏi nỗi ám ảnh và đau khổ. Nghiên cứu của Học viện Khoa học Xã hội (2021) cho thấy tỷ lệ tự tử ở tuổi 15-19 tăng từ 1,8% vào năm 2015 lên 2,5% vào năm 2021.
Các nghiên cứu trong va ngoài nước đã chỉ ra việc can thiệp tâm lý kip thời và hỗ trợ tâm lý chuyên sâu cho nhóm bị bắt nạt là điều vô cùng quan trọng. Ở Việt Nam, đã có nghiên cứu của các tác giả như Trần Văn Công và cs (2015, 2020), Nguyễn Thị Diễm My (2018), Huỳnh Văn Sơn và cs (2022) về chủ dé này. Tuy nhiên, các nghiên cứu đang tập trung phản ánh thực trạng, đề xuất giải pháp trên diện rộng mà it di sâu vào can thiệp trị liệu cho một trường hợp cụ thể. Chưa có nhiều nghiên cứu cụ thé về hỗ trợ tâm lý cho thanh thiếu niên bị bắt nạt, dẫn đến các vấn đề tâm lý kéo dài như biểu hiện của rối loạn tram cảm và PTSD.
Hơn nữa, vai trò của các bên liên quan như gia đình, nhà trường, bác sĩ, nhà tâm lý, đối tượng bắt nạt và gia đình,. trong việc phối hợp và giải quyết vấn đề vẫn chưa được làm rõ. Từ những thực trạng trên cùng với trải nghiệm trong quá trình thực hành nghề, tôi quyết định thực hiện nghiên cứu trường hợp “Can thiệp tâm lý cho một trường hợp có trải nghiệm bị bắt nat”, có các biêu hiện rối loạn tâm lý do từng qua bắt nat học đường. Đây không phải là một hướng đi mới nhưng dit liệu nghiên cứu có tính ứng dụng, hỗ trợ cá nhân cân bằng cảm xúc, ôn định suy nghĩ và có những hành vi phù hợp hơn, từ đó có thể độc lập, tự giải quyết vấn đề của bản thân và dự phòng trong tương lai.
Nhiệm vụ nghiên cứu Về lý luận: - Nghiên cứu tổng quan có hệ thống các tài liệu về thực trạng và hệ quả tâm lý của bắt nạt học đường ở TTN. - Điểm luận các nghiên cứu về hiệu quả của các liệu pháp tâm lý đối với TC bị bat nat, dẫn đến một số van đề tâm lý kéo dài như biểu hiện của rối loạn tram cảm và PTSD. Về thực tiễn: - Can thiệp va đánh gia hiệu qua cho một trường hợp có trải nghiệm bi bắt nạt, dẫn đến một số vấn đề tâm lý kéo đài như biểu hiện của rỗi loạn trầm cảm và PTSD. - Dua ra những kết luận và khuyến nghị liên quan tới ca lâm sàng, góp phan mở rộng nguồn dữ liệu về thực hành trị liệu tâm lý cho trường hợp có trải nghiệm bị bắt nạt.
Khách thé nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là van dé tâm lý của thanh thiếu niên trải qua bắt nat học đường. Khách thể là 01 thanh thiếu niên có trải nghiệm bị bắt nạt học đường. Nghiên cứu được tiến hành dưới hình thức trực tiếp. Phương pháp nghiên cứu - Phuong pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu về thực trang và hậu quả tâm lý của bắt nạt học đường, các tiếp cận trị liệu nhận thức - hành vi dé xây dựng cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu trường hợp.
- Phuong pháp phỏng van, hỏi chuyện lâm sang: Sử dung da dang các câu hỏi dé tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới van dé của TC, xác định van đề TC đang gặp phải,. - Phương pháp trắc nghiệm/thang đo: Nghiên cứu sử dung các thang sang lọc và lâm sàng để xác định rối loạn của TC. - Phuong pháp quan sát lâm sàng: Quan sát các biểu hiện bên ngoài của TC kết hợp với hỏi chuyện, trắc nghiệm nham ghi nhận ban đầu về van đề của TC. - Phuong pháp nghiên cứu trường hop: Trị liệu rối loan tâm ly với các biêu hiện cua tram cảm va stress sau sang chan theo tiêp cận nhận thức - hành vi.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BAT NAT HỌC DUONG VÀ HẬU QUÁ TÂM LÝ CÚA BẮT NẠT HỌC ĐƯỜNG 1. Téng quan nghiên cứu về bắt nat và hậu quả tâm lý của bắt nat học đường 1. Các nghiên cứu về bắt nạt học đường ở thanh thiếu niên Thanh thiếu niên là nhóm tham gia bắt nạt học đường ở mức độ cao (bao gồm bắt nạt người khác và bị bắt nạt). Theo UNICEF (2018), cứ 5 trẻ em và thanh thiếu niên thì có 1 trẻ em bị bắt nạt trên mạng, 3/4 không biết tìm kiếm sự giúp đỡ ở đâu.
1/3 thanh thiếu niên ở 30 quốc gia cho biết, họ đã từng là nạn nhân bị bắt nạt trên mang, trong đó 1/5 đã từng bỏ học vi bi bắt nạt trên mạng và bạo lực. Tỷ lệ trung bình học sinh 12 - 18 tuổi tham gia vào bắt nạt (là nạn nhân hoặc thủ phạm hoặc cả hai): có 35% bắt nạt kiểu truyền thống và 15% bắt nạt trực tuyến (Modecki va cs, 2014). Nghiên cứu trên 2.000 học sinh ở Iceland từ 9 - 12 tuổi cho thấy tỷ lệ bắt nạt trực tuyến dao động từ 0,5 - 1,4% và tỷ lệ bắt nạt truyền thống từ 1,5 - 3,6% (Baldursdóttir, 2013), một nghiên cứu khác trên 898 thanh thiếu niên Argentina cho thấy 6,0% số em có hành vi bắt nạt truyền thống; 8,0% - bắt nat trực tuyến và 4,0% - tham gia vào cả hai hình thức (Resett và Gámez-Guadix, 2017). Nghiên cứu khác trên 28.