Chương 1: MỘT SO LÝ LUẬN VE ROI LOẠN LO AU 1. Téng quan tài liệu về Rối loạn lo âu Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về Rối loạn lo âu. Một số nghiên cứu tại nước ngoài về Rối loạn lo âu Một số nghiên cứu về rối loạn lo âu: Nghiên cứu So sánh cắt ngang về dịch té học của rồi loạn lo âu lan tỏa DSM-5 trên toàn cầu của Ayelet Meron Ruscio và cộng sự (2017) trong các cuộc điều tra dan số chung với khoảng 150.000 người trưởng thành ở 26 quốc gia, rồi loạn lo âu lan tỏa theo bảng phân loại DSM-5 có tỷ lệ mắc cả đời là 3,7%, tỷ lệ hiện mắc trong 12 tháng là 1,8% và tỷ lệ hiện mắc trong 30 ngày là 0,8%. Rối loạn này phố biến và nghiêm trọng hơn đáng kế ở các nước thu nhập cao so với các nước thu nhập thấp hoặc trung bình.
Các ước tính về ty lệ hiện mắc rất khác nhau giữa các quốc gia, với tỷ lệ hiện mắc suốt đời cao nhất ở các nước thu nhập cao (5,0%), thấp hơn ở các nước thu nhập trung bình (2,8% ) và thấp nhất ở các nước thu nhập thấp (1,6%). Rối loạn lo âu lan tỏa thường bat đầu ở tuổi trưởng thành và tồn tại theo thời gian, mặc dù khởi phát muộn hơn và diễn biến lâm sàng dai dang hơn ở các nước có thu nhập thấp hơn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho kết quả: chỉ có khoảng một nửa sỐ người tìm kiếm sự chăm sóc và chỉ một phần ba số người đó được khám tại các cơ sở sức khỏe tâm thần chuyên khoa, cho thấy một khoảng cách điều trị đáng kẻ. Nghiên cứu Một cuộc điều tra lấy mẫu kinh nghiệm về cảm xúc và lo lắng ở những người mắc chứng rồi loạn lo âu lan tỏa của Elizabeth J.
Pawluk (2021) với những người tham gia bao gồm những người có rối loạn lo âu lan tỏa và những người không có rối loạn lo âu lan tỏa. So với nhóm không có rối loạn lo âu lan tỏa, nhóm có rối loạn lo âu lan tỏa thể hiện một hồ sơ cảm xúc được đặc trưng bởi cường độ trung bình cao hơn, tính không ổn định lớn hơn và sức i của cảm xúc tiêu cực lớn hơn và cường độ trung bình thấp hơn, tính không ổn định lớn hơn của cảm xúc tích cực. Các nghiên cứu liên quan tới phụ nữ: Nghiên cứu Sang lọc lo âu ở phụ nữ vị thành niên và trưởng thành của Tiffany I. Leung va cộng sự (2020) đã cho kết luận: Rối loạn lo âu ảnh hưởng xâu đến sức khỏe, chức năng và chat lượng cuộc sống của gan một nửa số phụ nữ Mỹ tại một thời điểm nào đó trong đời, nhưng tại thời điểm này, các rỗi loạn thường không được nhận biết và điều trị.
Phụ nữ bị rối loạn lo âu lan tỏa cho biết chất lượng giấc ngủ thấp hơn, nhiều triệu chứng mất ngủ hơn và buồn ngủ vào ban ngày nhiều hơn so với phụ nữ không bị rối loạn lo âu lan tỏa (Nghiên cứu của Sophie H.Li và cộng sự (2021) về Chat lượng giắc ngủ chủ quan và các đặc điển trong suốt chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ có và không mắc chứng Roi loạn lo âu lan tỏa) Ngoài ra có nghiên cứu liên quan đến van đề Covid — 19 gần đây: Dữ liệu dựa trên dân số từ các cuộc khảo sát quan điểm của Canada (CPSS-4: 20-26 tháng 7 năm 2020) được phân tích để xem xét mối quan hệ giữa thang điểm Rối loạn lo âu với các thông tin sai lệch COVID-19, việc làm bap bênh, và những thay đổi về hành vi sức khỏe, sau khi điều chỉnh theo các biến nhân khẩu học xã hội do tác giả Shen (Lamson) Lin (2022) cho kết quả: Tỷ lệ lưu hành dân số mắc lo âu lan tỏa vừa-nặng là 13,6%, với nữ cao hơn nam có ý nghĩa (17,2% so với 9,9%, p <0,001). Đối với phụ nữ, rối loạn lo âu lan tỏa có liên quan đến việc nghỉ làm vì lý do COVID-19, tuổi trẻ hơn, độc thân / góa chồng, không có liên hệ trong bên ngoài gia đình, không tập thé dục ngoài trời. Đối với nam giới, rối loạn lo âu lan tỏa có liên quan đến việc thường xuyên tiếp xúc với tin tức giả mạo, tăng thời gian xem tỉ vi, không tập thê dục trong nhà. Các nghiên cứu trong nước về Rối loạn lo âu Nghiên cứu của Dinh Ngọc Thắng và Dương Văn Khánh (2021) về Mức độ rồi loạn lo âu của sinh viên ngành giáo dục mâm non và giáo dục tiểu học, trường đại học Đồng Tháp.
Nghiên cứu thực hiện trên 260 sinh viên ngành Giáo dục tiểu học và Giáo dục mầm non ( tất cả các năm học) Khoa Giáo dục - Trường Đại học Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thay mức độ rối loạn lo âu của các sinh viên được khảo sát là tương đôi cao. Mức độ rôi loạn lo âu ở nữ sinh cao hơn nam; mức độ lo âu của học sinh mầm non cao hơn học sinh tiểu học. Tất cả sinh viên từ năm nhất đến năm tư đều bị rối loạn lo âu, nhưng sinh viên năm thứ ba ở mức cao nhất.
Rối loan lo âu của sinh viên có mối tương quan chặt chế với tram cảm và căng thăng, trong đó lo lắng ảnh hưởng mạnh đến rối loạn lo âu của họ. Nghiên cứu Đặc điểm lâm sang rồi loan lo âu lan tỏa của Đinh Việt Hùng, Nguyễn Duy Đông (2021) trên 62 bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa được điều trị nội trú tại Khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103 cho kết quả: bệnh nhân tái phát lần hai chiếm tỷ lệ cao 59,68 % và có tới 56,46% bệnh nhân khám không đúng chuyên ngảnh. Các triệu chứng khởi phát thường gặp của bệnh nhân là triệu chứng hồi hộp (95,16 %) và thời gian mang bệnh là 15,38 + 9,85 tháng. Phan lớn chủ đề lo âu về bệnh tật (82,26 %), thời gian tồn tại của triệu chứng trung bình 19,35 + 11,26 phút.
Ngoài ra triệu chứng tâm thần thường gặp nhất là triệu chứng chóng mặt (83,87 %) và điểm Thang đánh giá lo âu Hamilton cho nặng chiếm ti lệ cao nhất với 53,22%. Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Yến và cộng sự (2021) về Đặc điểm lâm sàng rồi loạn lo âu lan tỏa ở thanh thiếu niên. Với phương pháp mô tả cắt ngang trên 51 người bệnh trong độ tuôi thanh thiếu niên từ 10 đến 19 tuổi, được chân đoán rối loan lo âu lan tỏa theo tiêu chuân của Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, đến khám và điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai từ 8/2020 đến tháng 5/2021. Cho kết quả: triệu chứng “khó tập trung hoặc đầu óc trống rong” có mức độ nặng lớn nhất trong số tất cả các triệu chứng được nghiên cứu.
Các triệu chứng về cảm xúc là nhóm triệu chứng thường gặp nhất của rối loạn lo âu lan tỏa thanh thiếu niên, các triệu chứng về rối loạn thần kinh thực vat ít phố biến hon và mức độ giảm dan theo tuổi. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 40 bệnh nhân bị đau lưng mạn tính do thoái hóa cột sống của Vũ Hồng Vân (2021) với đề tài T7 lệ rồi loạn lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân đau thắt lưng mạn tính do thoái hóa cột sống cho kết quả: Ở bệnh nhân đau lưng mạn tính do thoái hóa, các yếu tô tâm lý đóng vai trò quan trọng, bởi vì các bệnh nhân này có nguy cơ bị rối loạn tâm lý lo âu và trầm cảm. Nghiên cứu của Vương Thị Được và cộng sự (năm 2022) về Đặc điểm lâm sang rồi loan lo âu lan tỏa ở người bệnh nội tru tại Viện sức khỏe tam than — Bệnh viện Bạch Mai năm 2020 — 2021 cho kết quả: R6i loạn lo âu lan tỏa thường gặp ở nữ, tuổi từ 30 — 49, mức độ lo âu chủ yếu là nặng, thường lo âu về chủ đề gia đình và tai nạn bệnh tật, triệu chứng khác thường gặp nhất là hồi hộp/ tim đập manh/ nhanh, khó ngủ vi lo lắng, bồn chén, dễ giật mình, cảm giác tê cóng / kim châm. Một số nghiên cứu về trị liệu Rối loạn lo âu Một số nghiên cứu chỉ ra răng việc sử dụng phương pháp trị liệu Nhận thức hành vi và Chánh niệm có tác động tốt đến hiệu quả giảm lo âu ở khách hàng.
Cụ thé: Nghiên cứu của Hoge EA và cộng sự (2013) với tiêu đề “7# nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát về thiền chánh niệm đối với chứng rồi loạn lo âu lan tỏa: Ảnh hưởng đến phản ứng lo âu và căng thẳng” cho thây thiền chánh niệm có thể có tác dụng hữu ích đối với các triệu chứng lo âu trong rối loạn lo âu tổng quát và cũng có thể cải thiện khả năng phản ứng và đối phó với căng thắng như được đo trong thử thách căng thắng trong phòng thí nghiệm. Cac nhà nghiên cứu đã nghiên cứu tới việc sử dụng liệu pháp hành vi nhận thức là một liệu pháp tâm lý dựa trên bằng chứng có hiệu quả đầu tiên đối với rối loạn lo âu lan tỏa, nhưng nhiều bệnh nhân không nhận được liệu pháp hành vi nhận thức này vì lý do chi phi, kỳ thị, hoặc sự đồng hành (Corrigan PW, Druss BG, Perlick DA, Tac động của kỳ thị đối với bệnh tâm than đến việc tìm kiếm và tham gia chăm sóc sức khỏe tâm thân, 2014). Tương tự, việc sử dụng thuốc/ dược liệu cũng có thể không thể tiếp cận, dung nạp được hoặc không có hiệu quả đầy đủ (Angelina F. Gomez và cộng sự, 2018) Năm 2019, Evi-Anne van Dis và cộng sự nghiên cứu về Kết qua lâu dài của liệu pháp hành vi nhận thức cho các rồi loạn liên quan đến lo âu cho kết quả là liệu pháp hành vi nhận thức có liên quan đến kết quả tốt hơn trong điều kiện kiểm soát những bệnh nhân có triệu chứng lo âu trong vòng 12 tháng sau khi kết thúc điều trị.
Khi theo dõi lâu hơn, các tác động từ nhỏ đến trung bình đối với rối loan lo âu lan tỏa và rối loạn lo âu xã hội và rối loạn căng thăng sau sang chan là không đáng ké hoặc không có đối với các rối loạn khác. Cụ thé tỷ lệ tái phát (chủ yếu là rỗi loạn hoảng sợ có hoặc không kèm theo chứng sợ mất trí nhớ) sau 3 đến 12 tháng là 0% đến 14%. Tháng 7 năm 2021, Philippe R.