Chương 1: MOT SO LÝ LUẬN VE ROI LOAN TRAM CẢM Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH VÀ LIỆU PHÁP CHÁP NHẬN VÀ CAM KÉT 1. Điểm luận nghiên cứu 1.1 Tổng quan nghiên cứu về rối loạn tram cam ở người trưởng thành Nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD) cho thấy RLTC đang gây ra những suy giảm, thiệt hại về mặt sức khỏe và đang có xu hướng gia tăng. Nếu năm 1990, RLTC đứng thứ 3 trên bảng xếp hạng gánh nặng bệnh tật toàn cầu thì tới năm 2019 nó đã leo lên vị trí thứ 2 [28]. Tại Hoa Kỳ, một nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2016 về tỉ lệ người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên mắc RLTC trong 2 tuần cho kết quả là 8,1% dân số.
Tỉ lệ nữ giới mắc trầm cảm cao gần gấp đôi nam giới (1,4%; 5,5%) và không có sự khác nhau về mặt thống kê giữa các nhóm tuổi. Đáng chú ý, tỉ lệ người gốc Á (không phải gốc Tây Ban Nha) mắc RLTC thấp nhất so với các chủng tộc khác tại Hoa Kỳ như tỉ lệ người trưởng thành gốc Tây Ban Nha mắc RLTC là 8,2%, người da trắng (không phải gốc Tây Ban Nha) là 7,9%, tỉ lệ này lên tới 9,2% đối với người da đen (không phải gốc Tây Ban Nha), trong khi tỉ lệ đối với người gốc Á (không phải gốc Tây Ban Nha) chỉ có 3,1% [11]. Còn tại Trung Quốc, một nghiên cứu vào năm 2017 cho thấy tỉ lệ người mắc trầm cảm trong 12 tháng ở Bắc Kinh là 2,5% và ở Thượng Hải là 1,7%. RƯTC gây ra tàn tật, tử vong và đau khổ nghiêm trọng cho cả người mắc và gia đình của họ.
Nghiên cứu này nhắn mạnh đến thiệt hại kinh tế ma Trung Quốc phải chi trả cho trầm cảm, ước tính tông chi phí vào khoảng 51,370 triệu Nhân Dân Tệ, tương đương 6,264 USD [27]. Việt Nam đến nay chưa có nghiên cứu với mẫu đủ lớn dé khái quát tỉ lệ din số mắc tram cảm trên toàn quốc. Thay vào đó, các nghiên cứu lát cắt được thực hiện như tập trung vào một ngành nghề, độ tuổi, khu vực địa lí cụ thể. Vào năm 2019, một nghiên cứu về tỉ lệ sinh viên y khoa mắc tram cảm được công bố là khoảng 15,2% và có mối tương quan với một số yếu tô phô biến như nhận thức về gánh nặng tài chính, không hoạt động thể chất, là sinh viên cuối cấp, nhận thấy ảnh hưởng tiêu cực của ca đêm, không có động cơ tự quyết [36].
Nghiên cứu khác thực hiện từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2015 ở một bệnh viện tại Hà Nội cho thấy tỉ lệ y tá có căng thăng, lo âu, trầm cảm lần lượt là 18,5%, 39,8%, 13,2%. 45,3% người tham gia nghiên cứu báo cáo rằng mình có ít nhất một triệu chứng RLTT [35]. Sự phổ biến của RLTC còn được thể hiện trong các nghiên cứu dịch tễ. Một nghiên cứu lấy mẫu ngẫu nhiên 299 người cao tuôi tại Hà Nội cho ra kết quả 66,9% mắc RLTC với 32,8% trầm cảm nhẹ, 33,4% trầm cảm trung bình, 3,7% trầm cảm nặng.
Nghiên cứu này chỉ ra rằng tuổi và số lần uống thuốc có mối tương quan thuận với RLTC, trong khi số hoạt động thé chất và ba lĩnh vực chất lượng cuộc sông (sức khỏe thê chất, sức khỏe tinh thần, sức khỏe xã hội) lại có mối tương quan nghịch với RLTC [14]. Kết quả này chỉ ra rằng những cá nhân có mức độ mắc trầm cảm càng cao thì độ tuôi và số lần uống thuốc cảng lớn, tuy nhiên, hoạt động thé chất và sức khỏe thé chất, tinh thần và xã hội lại giảm sút. Nghiên cứu tương tự được thực hiện với nhóm người cao tuổi thuộc dân tộc thiêu số sống tại Tây Nguyên, lấy mẫu ngẫu nhiên là 110 người, từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2018 cho thấy 8,2% mắc RLTC [34]. Các nghiên cứu trên đều củng cố cho nhận định trầm cảm là RLTT phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam.
Năm 2020, dai dich Covid-19 né ra đã khiến tỉ lệ người mắc tram cảm tăng mạnh. Trước đại dịch, một nghiên cứu được thực hiện trên 204 quốc gia ước tính có khoảng 193 triệu người mắc RLTC, tức là cứ 100 người thì có 3 người mắc trầm cảm [38]. Chỉ tính riêng năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới công bố trong báo cáo khoa học của mình về tỉ lệ người mắc trầm cảm trên toàn cầu đã tăng tới 27,6% so với trước đó [46]. Nghiên cứu này không nhằm chỉ ra mối tương quan giữa tác động của đại dịch đến sức khỏe tâm thần, tuy nhiên, đây là bối cảnh xã hội chung của cả thé giới, bao gồm Việt Nam, trong những năm gan đây.
Điều đáng chú ý là mặc dù có một số tiễn bộ nhưng hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện, thường chỉ tập trung ở các thành phố lớn và những bệnh nhân thuộc nhóm loạn thần. Bệnh viện tâm thần và trung tâm an sinh xã hội cung cấp sự chăm sóc chuyên nghiệp cho bệnh nhân có RLTT, nhưng sau đó bệnh nhân không thé song độc lập trong xã hội vi ho không có thời gian phục hồi thích hợp, thiếu sự hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình và các mạng lưới xã hội khác, hoặc không nơi nương tựa. Bên cạnh đó, Việt Nam đang phải đối mặt với sự thiếu hụt và chất lượng kém của các nguồn lực chuyên môn về sức khỏe tâm thần [35]. Vì vậy, việc hình thành hệ thông hoàn thiện cùng các nghiên cứu lí thuyết và kết quả thực hành là cần thiết dé góp phần vào phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam.
Tóm lại, trong hàng chục năm qua, tram cảm là RLTT phổ biến không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam. Đặc biệt, sau khi đại dịch Covid-19 diễn ra, số người mắc RLTC đã tăng mạnh. Nó trở thành gánh nặng bệnh tật của mỗi quốc gia, có thể mang tới tàn tật, đau khổ lâu dài và thiệt hại kinh tế cho cả người mắc, gia đình của họ và xã hội. Do đó, việc ứng dụng các liệu pháp tâm lý vào trị liệu tram cảm là cần thiết, giữ vi trí quan trong.
Tổng quan nghiên cứu về tác dung của liệu pháp chấp nhận và cam kết trong trị liệu rối loạn tram cảm ở người trưởng thành Theo Tổ chức Y tế Thế giới, một số liệu pháp đã được áp dụng và mang lại hiệu quả trong việc giảm triệu chứng của RLTC như sử dụng thuốc, can thiệp băng các liệu pháp tâm lý hoặc kết hợp giữa nhiều phương pháp [44]. Thuốc chống trầm cảm được đánh giá là một phương pháp hiệu quả nhưng nhược điểm là đi kèm với tác dụng phụ. Một số nghiên cứu cho răng liệu pháp tâm lý như liệu pháp nhận thức hành vi (Cognitive Behavioral Therapy - CBT) an toàn hơn thuốc và có hiệu quả tương đương [6]. Một liệu pháp thường được sử dụng trong trị liệu RLTC, kết hợp với CBT là kích hoạt hành vi (Behavioral Activation - BA) cũng mang lại tác dung đáng ké trong việc dập tắt hành vi không thích ứng và thúc day hành vi hữu ích.
Cuối thế ki XX-đầu thé ki XIX, làn sóng thứ 3 trong trị liệu hành vi xuất hiện, không còn tập trung vào thay đổi nội dung/ tần suất/ hình thức của hành vi hay nhận thức có van dé cụ thê như các liệu pháp thuộc hai làn sóng trước đó (CBT, BA,.), mà tập trung vào thay đổi chức năng của trải nghiệm riêng tư bằng cách xây dựng ngữ cảnh [26]. Một đại diện tiêu biểu của làn sóng thứ ba là liệu pháp chấp nhận và cam kết (ACT). Mục tiêu tổng thé của ACT là tăng cường sự linh hoạt về tâm lý, đó là khả năng chú tâm đến những trải nghiệm trong thời điểm hiện tại theo cách chấp nhận và không phán xét, đồng thời cư xử nhất quán với các giá trị của chính mình ngay cả khi suy nghĩ và cảm xúc của bản thân phản đối việc thực hiện hành động có giá trị [32]. Sự linh hoạt về tâm lý thé hiện nhiều khả năng của con người [30] và có thể được coi là yếu tố bảo vệ chống lại các rối loạn sức khỏe tâm thần thường gap[12] Một số nghiên cứu đã chỉ ra kết quả tích cực của việc can thiệp bang liệu pháp chấp nhận và cam kết giúp giảm các triệu chứng của RLTC.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ACT có hiệu quả lâu dài với RLTC, rỗi loạn lo âu, RLTT, dau mạn tính, căng thắng trong công việc, kì thị và kiệt sức [23]. Tổng quan 21 tài liệu cho thấy ACT không chỉ có hiệu quả ngay sau trị liệu mà còn kéo dài sau đó [21]. Một nghiên cứu phân tích tổng hợp 18 nghiên cứu trên thế giới, lấy dữ liệu từ tháng I năm 2010 đến tháng 8 năm 2018 với 1088 người tham gia cũng cho kết quả tương tự [6]. Nghiên cứu này còn phân tích tac động của ACT với RLTC theo từng độ tuôi và mức độ trầm cảm.
Các số liệu cho thấy ACT có mối tương quan với giảm triệu chứng tram cảm ở nhóm người trưởng thành và nhóm RLTC nhẹ. Các nghiên cứu trước năm 2010 cũng chỉ ra kết quả tích cực của can thiệp băng ACT với người trưởng thành riêng lẻ va trong các cơ sở nhóm có RLTC [51]. Một sỐ nghiên cứu đối chứng nhằm so sánh hiệu quả giữa các liệu pháp đã được thực hiện. ACT có tác dụng lâu dài đối với RLTC so với CBT [50] và ACT đồng thời mang lại hiệu quả trong việc giảm né tránh trải nghiệm so với BA [15].
Ngược lại với sự đa dạng trong nghiên cứu về kết quả của liệu pháp chấp nhận và cam kết đối với trị liệu RLTC trên thế giới và ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Anh Quốc, Trung Quốc,. Việt Nam không có nghiên cứu nào được công bố về nội dung này. Thay vào đó, quá trình chấp nhận được tách riêng để nghiên cứu về mỗi tương quan giữa nó và RLTC. Vào năm 2021, Nguyễn Thị Minh Hang và cộng sự đã công bố nghiên cứu về ảnh hưởng của chấp nhận đến RLTC, lo âu và stress với mẫu 1483 người.
Kết quả cho thấy, chấp nhận có mối tương quan nghịch ở mức khá với RLTC, riêng với ba nhóm nghề nghiệp là y bác sĩ, doanh nhân, quân nhân thì môi tương quan ở mức cao [2]. Vì vậy, việc thực hiện thêm các nghiên cứu 10 về tác dụng của ACT đối với trị liệu RLTC là cần thiết, góp thêm gợi ý cho trị liệu lâm sàng tại Việt Nam. Tóm lại, liệu pháp chấp nhận và cam kết đã được chứng minh là có hiệu quả với trị liệu RLTC.