Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG TRỊ LIỆU TÂM LÝ CHO BỆNH NHÂN RỐI LOẠN CẢM XÚC 1. Liệu pháp trị liệu tâm lý 1. Khái niệm trị liệu tâm lý Trị liệu tâm lý là biện pháp các nhà tâm lý lựa chọn nhằm giúp đỡ bệnh nhân trong quá trình trị liệu các vấn đề về sức khỏe tinh thần cho bệnh nhân. Trị liệu tâm lý sử dụng các phương pháp và kỹ thuật khác nhau để giúp bệnh nhân giải quyết những vấn đề về nhận thức, cảm xúc, hành vi, động cơ.
Những vấn đề này thường khiến con người cảm thấy khó khăn trong việc tự quản lý cuộc sống và đạt đến các mục đích mong muốn của mình. Lê Thị Minh Tâm đưa ra khái niệm trị liệu tâm lý như sau: Trị liệu tâm lý là các phương pháp, kỹ thuật mà nhà trị liệu tâm lý sử dụng thông qua cách thức giao tiếp nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe, tinh thần, tháo gỡ các vấn đề trong cảm xúc và hành vi của người bệnh [30]. Đặc điểm của liệu pháp trị liệu tâm lý Đối với các rối loạn tâm lý, trị liệu tâm lý là một phương pháp điều trị sử dụng song song hoặc thay thế các phương pháp điều trị khác như hóa dược, phẫu thuật … Trong trị liệu tâm lý, nhà tư vấn tâm lý sẽ giúp người bệnh tháo gỡ nhưng điều mà họ không thể nhận ra, xác định những vấn đề tiêu cực mà người bệnh đang phải đối mặt, từ đó làm cho người bệnh hiểu những cảm xúc của bản thân. Nhà tâm lý cũng dạy cho người bệnh làm thế nào để đối phó với những cảm xúc đó.
Rất nhiều người có thể cảm thấy do dự khi nói chuyện với một người lạ về cảm xúc của họ, nhưng các nghiên cứu cho thấy trị liệu tâm lý là một phương thức điều trị rất hiệu quả. Một ưu điểm của phương pháp điều trị này là nó không mang lại tác dụng phụ như điều trị bằng hóa dược [30]. Dựa trên định nghĩa khái niệm trị liệu tâm lý, có thể thấy trị liệu tâm lý có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, trị liệu tâm lý cần sự tương tác giữa nhà trị và bệnh nhân. Bệnh nhân chỉ tham gia trị liệu tâm lý khi họ đồng ý và hiểu về quá trình trị liệu.
Trị liệu tâm lý chỉ đạt hiệu quả khi bệnh nhân hợp tác với nhà trị liệu và chủ động tham gia các hoạt động trị liệu. 14 luan an Thứ hai, trị liệu tâm lý được thực hiện qua hình thức giao tiếp. Khác với trị liệu hóa dược hay phẫu thuật, trị liệu tâm lý không đòi hỏi nhà trị liệu tác động trực tiếp lên cơ thể bệnh nhân. Trong trị liệu tâm lý, nhà trị liệu tác động vào ý thức (hoặc tiền ý thức) của bệnh nhân, từ đó giúp bệnh nhân nhận thức được những khó khăn, rối loạn mình đang gặp phải và có cách ứng phó phù hợp.
Thứ ba, trị liệu tâm lý tác động vào sức khỏe tinh thần của bệnh nhân, nhưng hiệu quả của trị liệu tâm lý không chỉ dừng ở việc nâng cao sức khỏe tinh thần mà còn tác động tích cực đến sức khỏe thể chất. Chính sự gắn bó mật thiết giữa thể chất và tinh thần của con người đã giúp tăng cường hiệu quả của trị liệu tâm lý. Trị liệu tâm lý bằng liệu pháp nhận thức - hành vi 1. Khái niệm liệu pháp nhận thức – hành vi Liệu pháp nhận thức - hành vi là một trong những liệu pháp tâm lý trị liệu.
Người trị liệu sẽ trò chuyện về tình trạng bệnh và những vấn đề liên quan của mình với nhà trị liệu. Liệu pháp này giúp người trị liệu nhận thức được suy nghĩ không chính xác hoặc tiêu cực khi đứng trước các tình huống thách thức. Từ đó phản hồi chúng theo những cách tích cực và hiệu quả hơn. Liệu pháp nhận thức hành vi là sự kết hợp của các nguyên tắc cơ bản từ tâm lý học nhận thức và tâm lý học hành vi, được các nhà nghiên cứu phát triển phù hợp với xu hướng trị liệu tâm lý trong xã hội hiện đại.
* Liệu pháp nhận thức Trị liệu nhận thức đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà chuyên môn sức khỏe tâm thần ở khắp thế giới trong những năm gần đây. Cuộc “cách mạng nhận thức” trong tâm lý học bắt đầu từ cuộc hội thảo về chủ đề xử lý thông tin được tổ chức ở viện kỹ thuật Massachusetts (MIT) và sau đó là một loạt các công trình của Bruner, Goodnow, Austin (1956), Chomsky (1956, 1957), Kelly (1955), Newell và Simon (1956). Phương pháp trị liệu nhận thức đã tạo chỗ đứng chung cho những nhà trị liệu ở những trường phái khác nhau, từ trường phái phân tâm đến trường phái hành vi [18]. Liệu pháp nhận thức cho rằng vấn đề cảm xúc là kết quả của lối tư duy hoặc các thái độ sai lệch đối với bản thân và người khác, vì vậy muốn cải thiện bản thân thì phải cải thiện tư duy [63].
Nhà trị liệu trở thành một người hướng dẫn tích cực giúp thân chủ điều chỉnh lại tri giác và thái độ của họ bằng cách dẫn ra các bằng chứng ngược lại hoặc giúp thân chủ tự nêu ra các bằng chứng đó. Tác giả Nguyễn Văn Thọ đã định nghĩa liệu pháp nhận thức như sau: 15 luan an Liệu pháp nhận thức là một tiếp cận tâm lý trị liệu hướng tới việc thay đổi những cảm nhận và những hành vi bằng cách thay đổi sự tiếp nhận hoặc suy nghĩ của bệnh nhân về những trải nghiệm quan trọng [37]. * Liệu pháp hành vi Vào giữa năm 1950, Albert Ellis - một nhà tâm lý học lâm sàng – nhận thấy trị liệu dựa trên phân tâm học mang lại hiệu quả rất chậm ở các bệnh nhân; trong khi đó, bệnh nhân lại cải thiện tốt hơn khi thay đổi cách suy nghĩ đối với bản thân, với những vấn đề mà bệnh gặp phải, và với thế giới bên ngoài. Vì vậy ông đã phát triển một liệu pháp được gọi là liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý (Rational Emotive Behaviour Therapy) [57].
Nếu như trị liệu ứng dụng phân tâm học chú trọng vào thay đổi nhân cách thì trị liệu cảm xúc hành vi hợp lý tập trung vào thay đổi hành vi sai lệch [30]. Thay vào việc thăm dò cái vô thức hoặc khám phá các suy nghĩ, tình cảm của thân chủ, các nhà trị liệu hành vi tìm cách loại bỏ những triệu chứng và thay đổi các mẫu hình hành vi thiếu hiệu quả hay kém thích nghi bằng cách sử dụng một số kỹ thuật học tập cơ bản, như liệu pháp ngăn ngừa, điều kiện tạo tác, điều kiện dạng Pavlov, ức chế, tương hỗ. Như vậy, Liệu pháp hành vi thực chất là quá trình giáo dục, trong đó thân chủ học các kỹ năng tự điều chỉnh, phát triển các cách thức ứng xử mới. Việc học này tốt nhất nên được tiến hành ở môi trường sống thực của thân chủ [30].
* Khái niệm liệu pháp nhận thức hành vi Liệu pháp nhận thức hành vi là thuật ngữ chung cho các chương trình can thiệp tâm lý đặt trọng tâm vào các kỹ thuật thay đổi suy nghĩ, từ đó thay đổi hành vi và cảm xúc (khí sắc) [61]. Trọng tâm chính của liệu pháp này là giúp bệnh nhân học cách thức thay đổi môi trường bên ngoài để từ đó thay đổi hành vi. Chương trình huấn luyện gồm 3 bước: xác định vấn đề, tìm ra giải pháp và thực hành giải pháp[61]. Liệu pháp nhận thức hành vi nhằm thay đổi hành vi không phù hợp, nhưng không phải cứ thay đổi hành vi thì gọi là liệu pháp nhận thức hành vi.
Thí dụ, trẻ tự kỷ thường có hành vi tự hủy hoại (cắn tay, đập đầu, đấm đồ vật, cào…). Nhà trị liệu thường làm giảm các hành vi này bằng cách thưởng trẻ khi trẻ thực hiện hành vi đúng (không cắn tay, không đập đầu…). Đây là liệu pháp hành vi chứ không phải liệu pháp nhận thức hành vi vì không diễn ra sự thay đổi nhận thức. Chỉ khi nào có sự thay đổi, hóa giải nhận thức, và chỉ khi nào mà sự thay đổi nhận thức là một 16 luan an thành phần quan trọng của kế hoạch trị liệu thì mới được gọi là liệu pháp nhận thức hành vi.
Như vậy, chỉ thay đổi nhận thức mà không thay đổi hành vi (liệu pháp nhận thức), hoặc chỉ thay đổi hành vi mà không thay đổi nhận thức (liệu pháp hành vi) đều không phải là liệu pháp nhận thức - hành vi. * Khái niệm trị liệu tâm lý bằng liệu pháp nhận thức – hành vi Trị liệu tâm lý bằng liệu pháp nhận thức – hành vi là sử dụng các kỹ thuật thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi và cảm xúc (khí sắc) nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe, tinh thần, tháo gỡ các vấn đề trong cảm xúc và hành vi của người bệnh. Nội dung của trị liệu tâm lý bằng liệu pháp nhận thức hành vi Liệu pháp nhận thức hành vi chứa đựng ba đặc điểm cốt lõi sau: (1) Hoạt động nhận thức ảnh hưởng đến hành vi: Đánh giá của một người về các sự kiện có thể ảnh hưởng tới cách anh ta phản ứng với những sự kiện đó. Vì vậy, thay đổi đánh giá có ý nghĩa lớn trong lâm sàng.
Muốn thay đổi hành vi bất thường, không mong muốn của thân chủ, ta có thể tác động bằng cách thay đổi suy nghĩ của thân chủ về sự kiện đang tác động đến họ. (2) Hoạt động nhận thức có thể được giám sát và có thể thay đổi Nhận thức con người là cái khó quan sát, nhưng không phải là không nắm bắt được. Bản thân chúng ta tự biết và đánh giá được sự nhận thức của chúng ta. Tuy nhiên, đánh giá hoạt động nhận thức khó ở chỗ hoạt động trong suy nghĩ của con người là những thứ “có khả năng xảy ra”, không phải là “thực tế” xảy ra.
Dù vậy, nhận thức của con người là yếu tố tâm lý có thể tiếp cận được, và đây là cơ sở cho việc thay đổi nhận thức. (3) Thay đổi nhận thức có thể tạo ra sự thay đổi hành vi: Hành vi không phải lúc nào cũng đến từ nhận thức chủ động, nhưng rất nhiều hành vi xuất phát từ nhận thức. Vì vậy, ngoài cách sử dụng điều kiện hóa để thay đổi hành vi, cũng có thể sử dụng phương pháp thay đổi nhận thức để thay đổi hành vi. * Các liệu pháp nhận thức hành vi cơ bản: Có ba loại liệu pháp nhận thức hành vi chủ yếu.
Sự khác biệt giữa các liệu pháp này nằm ở mục tiêu tác động của liệu pháp.