phần mở đầu, trầm cảm xuất hiện ở mọi độ tuổi, từ trẻ em, thanh niên cho tới người trưởng thành và cả người già. Hiện nay, các nghiên cứu về trầm cảm ở độ tuổi thanh niên ngày càng được quan tâm hơn do lứa tuổi này thuộc lớp người đang trưởng thành và hoàn thiện về năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách. Thanh niên không còn là trẻ em nhưng cũng chưa hoàn toàn là người trưởng thành. Họ cần được hướng dẫn để phát triển độc lập, trở thành người trưởng thành có ích.
[15] Chính những điều ấy dẫn đến những áp lực nhất định đối với thanh niên, áp lực lâu ngày sẽ dần hình thành các rối nhiễu tâm lý. Trong phạm vi đề án nghiên cứu, học viên sẽ điểm lược một số kết quả nghiên cứu như sau: Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về rối loạn trầm cảm ở thanh niên cho thấy sự gia tăng về tỷ lệ trầm cảm ở nhóm đối tượng này. Các đặc điểm về giới tính, môi 5 trường sống xa gia đình, độc lập, có trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ hay trải nghiệm căng thẳng trong học tập, trong cuộc sống ảnh hưởng lớn đến khả năng mắc trầm cảm. Theo thống kê của Viện đo lường và đánh giá sức khỏe (Institute of Health Metrics and Evaluation) năm 2019 cho biết: 280 triệu người đang sống chung với chứng trầm cảm, bao gồm 23 triệu trẻ em và thanh thiếu niên [54] Trong giai đoạn từ 2011–2016, tỷ lệ trầm cảm ở thanh thiếu niên Mỹ đã tăng từ 8,3% lên 12,9%.
Tỷ lệ trầm cảm thậm chí còn cao hơn ở nữ giới và thanh thiếu niên lớn tuổi từ 14 đến 19. Trong một nghiên cứu cắt ngang trên 431 bệnh nhân trẻ HIV/AIDS về “Tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân HIV/AIDS thanh niên đến khám tại Phòng khám ART tại Cơ sở Y tế Chính phủ Thị trấn Dessie, Đông Bắc Ethiopia” của Amare Getaye, Cherie, Getaw Walle Bazie and Teshome Gebremeskel Aragie, 2021 cho biết: Kết quả tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân HIV/AIDS thanh niên trong độ tuổi từ 20 đến 24 là 26,2%. Các yếu tố như: Tuổi tác, sự kỳ thị liên quan đến HIV, hỗ trợ xã hội, mất việc và tuân thủ điều trị kém được cho là những yếu tố dự báo độc lập về trầm cảm. [32] Nghiên cứu của Faiza Rab, R Mamdou, S Nasir (2007) về: “Tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở nữ sinh viên y khoa ở Pakistan” trên 87 nữ sinh viên y khoa được chọn ngẫu nhiên tại một trường cao đẳng y tế ở Lahore, Pakistan.
Kết quả nghiên cứu cho biết: 43,7% học sinh cho biết lo lắng và 19,5% trầm cảm. Sinh viên sống trong ký túc xá đại học bị trầm cảm và lo lắng nhiều hơn đáng kể so với những sinh viên sống ở nhà. Những người có tiền sử trải qua những sự kiện tiêu cực trong cuộc sống gần đây có nhiều khả năng bị trầm cảm hơn. Những sinh viên trong 2 năm đầu tiên ở trường y sẽ căng thẳng hơn và những người có nhiều bạn bè hơn sẽ ít lo lắng và trầm cảm hơn.
[43] Trong nghiên cứu về: “Đặc điểm suy giảm nhận thức thần kinh ở người trẻ bị trầm cảm nặng: trạng thái, đặc điểm hay vết sẹo?” của Kelly Allott và cộng sự (2016) cho thấy: Rối loạn trầm cảm nặng (MDD) ảnh hưởng đến 1/4 thanh thiếu niên và thanh niên và có liên quan đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu lớn nhất ở nhóm dân số này. Ngày càng có nhiều tài liệu, chủ yếu ở người lớn, cho thấy tình trạng suy giảm nhận thức thần kinh đáng kể là phổ biến ở MDD. [25] Tại Việt Nam, sau đại dịch COVID -19, tỷ lệ thanh niên mắc các rối loạn tâm thần trong đó có trầm cảm tăng lên đáng kể. Trong đó nổi bật là tỷ lệ trầm cảm ở các sinh viên ngành Y khi vừa áp lực trong công việc hỗ trợ người dân điều trị COVID -19, khi vừa áp lực đứng trước nỗi lo của cá nhân để bảo vệ chính mình vượt qua đại dịch.
Cụ thể, trong nghiên cứu của Phạm Phương Mai và cộng sự năm 2022 đăng trên tạp chí Nghiên cứu Y học của Đại học Y Hà Nội về thực trạng trầm cảm ở thanh niên trong đại dịch COVID -19. Nghiên cứu được thực hiện trên toàn quốc với cỡ mẫu là 9.781 người tham gia nhằm mô tả mức độ phổ biến của trầm cảm và lo âu ở thanh niên 6 Việt Nam (15 - 24 tuổi) trong thời kỳ dịch bệnh COVID - 19 bùng phát và các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy 10% thanh niên Việt Nam có biểu hiện trầm cảm từ mức độ nhẹ đến cực nặng và 15,6% có lo lắng từ nhẹ đến cực kỳ nghiêm trọng. Đặc biệt, 1% người tham gia cho biết họ bị bệnh nặng hoặc cực kỳ nghiêm trọng.
Trong đó các triệu chứng trầm cảm nghiêm trọng và 2,6%. [16] Trong nghiên cứu của Phan Nguyệt Hà và Trần Thơ Nhị thực hiện từ tháng 11/2021 đến tháng 6/2022 để thống kê và đo mức độ trầm cảm của sinh viên trường Đại học Y Hà Nội trong đại dịch COVID - 19 cho thấy: 57,1% sinh viên có nguy cơ mắc trầm cảm. Trong đó có 16,5 % trầm cảm ở mức độ nhẹ; 25,1% trầm cảm ở mức độ vừa, 7,1% trầm cảm ở mức độ nặng và có đến 8,4% trầm cảm ở mức độ rất nặng. [19] Ngoài ra có “Nghiên cứu về trầm cảm ở sinh viên điều dưỡng và y tế công cộng tại TP Hồ Chí Minh” của Hồ Ngọc Quỳnh (2009) cho biết: 17,6% sinh viên y tế công cộng và 16,5% sinh viên điều dưỡng mắc trầm cảm.
Các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm như sự quan tâm của cha mẹ, gắn kết nhà trường, thành tích học tập, quan hệ xã hội, tự nhận thức bản thân.95-100] Nghiên cứu của Lê Minh Thuận (2011) về “Sức khỏe tâm trí của sinh viên”. Nghiên cứu cắt ngang trên 252 sinh viên cho thấy: tỉ lệ lo âu mức độ rất nặng khoảng 7% là nữ và 4% là nam (chung là 11%), tỷ lệ trầm cảm là 5% (nữ). Lo âu mức độ nặng là 12%, stress là 2% và trầm cảm 2% [6, tr.] Từ các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam có thể thấy tỉ lệ trầm cảm ở thanh niên đang ngày càng gia tăng với các mức độ nghiêm trọng. Đồng thời các nghiên cứu cũng cho thấy việc đánh giá, quan tâm và đưa ra các chiến lược hỗ trợ nhóm đối tượng này là nhiệm vụ cần thiết trong thời đại ngày nay.
Một số lý luận về trầm cảm và liệu pháp nhận thức hành vi trong trị liệu rối loạn trầm cảm 1. Khái niệm trầm cảm Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về khái niệm trầm cảm được đưa ra: Theo WHO “Rối loạn trầm cảm” (còn gọi là trầm cảm) là một rối loạn tâm thần phổ biến. Nó liên quan đến tâm trạng chán nản hoặc mất niềm vui hoặc hứng thú với các hoạt động trong thời gian dài. Trầm cảm khác với những thay đổi tâm trạng và cảm xúc thường xuyên về cuộc sống hàng ngày.
Nó có thể ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống, bao gồm cả mối quan hệ với gia đình, bạn bè và cộng đồng. Nó có thể là kết quả hoặc dẫn đến các vấn đề ở trường và tại nơi làm việc. Khái niệm trầm cảm trong sách: “How Spychology works” có viết: Trầm cảm là một căn bệnh thông thường, có thể được chẩn đoán khi một người cảm thấy buồn chán và lo lắng, mất niềm vui trong các hoạt động thường ngày từ hai tuần trở lên. Các triệu chứng của nó bao gồm tâm trạng u uất, buồn bã kéo dài, thấy giá trị bản thân thấp, cảm thấy vô vọng hay bất lực.
Một người trầm cảm sẽ không tìm thấy động lực và 7 không hứng thú để làm bất kỳ điều gì, họ khó đưa ra quyết định và không có niềm vui nào trong cuộc sống. 37] Quan điểm trầm cảm của Nguyễn Văn Siêm viết theo Sandler và Joffe: “Phản ứng trầm cảm là phản ứng cuối cùng để tránh sự bất lực trước trạng thái đau thể chất và tâm lý”. [14] Theo Tâm bệnh học của Phạm Toàn định nghĩa trầm cảm là tình trạng suy sụp tinh thần, tâm trí và thể chất với những triệu chứng buồn rầu, rũ rượi, đờ đẫn, chán đời và kiệt sức. 313] Học viên sử dụng khái niệm trầm cảm theo DSM – 5 làm cơ sở lí luận cho đề án.
Trầm cảm “là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi khí sắc trầm buồn, mất hứng thú hoặc niềm vui trong các hoạt động, giảm năng lượng hoặc tăng mệt mỏi”. (American Psychiatric Association, 2013) Đặc điểm chủ đạo ở các rối loạn trầm cảm, đặc trưng bởi (1) trạng thái trầm buồn và/hoặc (2) sự mất hứng thú với các hoạt động ưa thích trước đó. Ở trầm cảm, có các dấu hiệu thay đổi rõ rệt và kéo dài về mặt cảm xúc, nhận thức, hành vi và thể chất. Trong DSM - 5, giai đoạn trầm cảm chủ yếu được chẩn đoán khi các triệu chứng nghiêm trọng của các trạng thái trầm cảm kéo dài ít nhất hai tuần và gây suy giảm rõ rệt đến các hoạt động chức năng của cá nhân.
Tiêu chuẩn chẩn đoán về trầm cảm Trong khuôn khổ đề án này, học viên sử dụng bộ tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM - 5 để đối chiếu với các triệu chứng của thân chủ. Tiêu chuẩn chẩn đoán Trầm cảm theo DSM - 5 Tiêu chuẩn chẩn đoán A. Năm (hoặc nhiều hơn) các triệu chứng sau, cùng xuất hiện trong thời gian 2 tuần và thể hiện sự thay đổi so với hoạt động chức năng trước đó; Ít nhất phải có 1 trong 2 triệu chứng chính là (1) khí sắc trầm hoặc (2) mất quan tâm hoặc thích thú. Ghi chú: Không bao gồm các triệu chứng là hệ quả rõ ràng của tình trạng bệnh lý về thể chất hoặc các ảo giác hoặc các hoang tưởng không tương thích với khí sắc.
Khí sắc trầm gần như cả ngày, kéo dài hầu hết tất cả các ngày, do cá nhân tự báo cáo (ví dụ: cảm thấy buồn, trống rỗng, mất hy vọng) hoặc được quan sát bởi người khác (ví dụ: nhìn thấy người bệnh khóc). Chú ý: ở trẻ em và vị thành niên có thể là tâm trạng khó chịu, cáu kỉnh. Giảm sự quan tâm hoặc hứng thú rõ rệt ở tất cả, hoặc như tất cả các hoạt động trong gần như cả ngày, kéo dài hầu hết tất cả các ngày (do cá nhân tự nhận thấy hoặc do người khác quan sát thấy). Giảm cân khi không ăn kiêng hoặc tăng cân 1 cách đáng kể (ví dụ: thay đổi nhiều hơn 50% trọng lượng cơ thể trong vòng 1 tháng) hay giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng gần như tất cả các ngày.