CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ROI LOẠN TRAM CẢM Ở THANH THIẾU NIEN 1. Tổng quan nghiên cứu về rối loạn trầm cảm ở thanh thiếu niên 1. Các nghiên cứu về thực trạng rối loạn tram cảm ở thanh niên Theo thông tin cập nhật từ Tổ chức y tế thế giới (WHO, 2021), có khoảng 280 triệu người trên thé giới mắc tram cảm. Đây là con số không hề nhỏ, và chúng mới chỉ là các trường hợp lâm sàng đã được chân đoán tại các cơ sở y khoa.
Điều ấy cho thấy, số lượng người thực tế mắc trầm cảm có thê sẽ lớn hơn nhiều. Báo cáo của Shorey và cộng sự (2022) đưa ra một số điểm nhấn chính về thực trạng tram cảm toàn cầu như sau: e Ty lệ phô biến toàn cầu của các triệu chứng tram cảm tự báo cáo gia tăng từ năm 2001 đến 2020 là 34%. e Ty lệ mắc chứng rối loạn tram cảm điên hình là 8%. e Tý lệ trầm cảm kéo dai một năm (one-year prevalence) và kéo đài suốt đời (lifetime prevalence) đối với trầm cảm dién hình là 8%.
e Ty lệ hiện mắc các triệu chứng tram cảm tăng cao ở thanh thiếu niên tăng từ 24% từ năm 2001 đến 2010 lên 37% từ năm 2011 đến 2020. Trung Đông, Châu Phi và Châu Á có tỷ lệ mắc các triệu chứng tram cảm cao nhất và thanh thiếu niên nữ được báo cáo là có tỷ lệ mắc các triệu chứng tram cảm cao hon so với thanh thiếu niên nam. Bên cạnh đó, ước tính có khoảng từ 5 đến 10% những người trẻ tuổi xuất hiện biểu hiện trầm cảm nhẹ (Rey và cộng sự, 2015). Thanh thiếu niên bị trầm cảm nhẹ sẽ biểu hiện một số sự suy giảm về chức năng, tăng nguy cơ tự sát và tiến triển thành trầm cảm điển hình.
Báo cáo của Castiglia (2000) cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở trẻ em gái tăng mạnh trong độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi. Đặc biệt, ở tuổi 18, các bé gái có tỷ lệ trầm cảm cao gấp đôi so với các bé trai. Tương tự, Ngô Anh Vinh và cộng sự (2022) cũng khám phá ra rằng học sinh nữ tại Việt Nam có nguy cơ mắc tram cảm gấp 1.6 lần so với học sinh nam. Trong đó, học sinh có mối quan hệ mâu thuẫn với bố mẹ có có nguy cơ mắc tram cam, lo âu và stress cao hơn so với học sinh có môi quan hệ hoà hợp.
Tại Việt Nam, ngoai số liệu được công bố trong báo cáo của WHO vào năm 2015, có rất it các nghiên cứu dịch tễ học xem xét tỉ lệ phô biến của trầm cảm trên toàn bộ dân nói chung. Thay vào đó, các nghiên cứu được tiến hành một cách nhỏ lẻ, với quy mô năm trong một địa bàn, tỉnh thành hoặc một vùng miền cu thé. Với cách thiết kế nghiên cứu có phan khác biệt, cũng rất khó đề có thé gộp chung và so sánh những kết quả từ các báo cáo này. Nghiên cứu cắt ngang trên 1325 sinh viên trường Đại học Y Hà Nội (Hà Nội) cho thấy có 57.1% sinh viên có nguy cơ mắc trầm cảm (Phan Nguyệt Hà & Trần Thơ Nhị, 2022).
Tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, ở mẫu khảo sát, có khoảng 1/3 số trẻ đã từng nghĩ đến tự làm đau bản thân và 10% trẻ đã tự làm đau bản thân, 25% số trẻ đã từng nghĩ đến tự tử và 1.4% số trẻ đã thực hiện tự tử nhưng không thành công (Nguyễn Danh Lâm và cộng sự, 2022). Tại tỉnh Khánh Hòa năm 2018, số liệu cho thấy có 55.4% đối tượng học sinh lớp 12 tại các trường trung học phô thông có biểu hiện trầm cảm, mức độ nhẹ là 17.3% và nặng là 7. Các nghiên cứu về đặc điểm và ảnh hưởng của rỗi loạn trầm cảm Về các đặc điểm lâm sảng của rỗi loạn trầm cảm, Higuera (2021) liệt kê một số đặc điểm lâm sàng có thể tham khảo như sau: e Cảm thấy buồn, lo lắng hoặc "trống rỗng". e Cảm thấy tuyệt vọng, vô giá trị và bi quan e© Khóc rat nhiéu e Cam thay khó chịu, dé kích động hoặc tức giận e Mất hứng thú với sở thích trước đây e Giảm năng lượng, mệt mỏi, ué oải e Khó tập trung, ghi nhớ hoặc đưa ra quyết định e Di chuyên lờ đờ, nói năng chậm chap hơn e Khó ngủ, dễ bị tỉnh giấc hoặc ngủ triền miên e Thay đôi khâu vị hoặc cân nặng e Xuất hiện các triệu chứng đau cơ thé mãn tính mà không có nguyên nhân rõ ràng, và cũng không thé cải thiện sau khi điều trị (Vi dụ: đau đầu, dau, các van đề tiêu hóa, chuột rút) e Suy nghi về cái chết, tự tử, tự làm hại ban thân hoặc cố găng tự tử Dù vậy, không phải ai bị trầm cảm cũng sẽ trải qua các triệu chứng giống nhau.
Các triệu chứng có thể khác nhau về mức độ nghiêm trọng, tần suất xảy ra và thời gian kéo dài. Những thanh thiếu niên mắc trầm cảm có thể phải gánh chịu rất nhiều những hệ lụy về thời gian dài nếu như không nhận được sự can thiệp và hỗ trợ kịp thời. Nữ giới có triệu chứng tương tự như những triệu chứng ma người lớn báo cáo, trong khi các thanh niên nam giới cho biết có cảm giác khinh thường và ghê tởm bản thân. Hơn nữa, các cá nhân có xu hướng tham gia vào các hành vi như lạm dụng chất gây nghiện, trộm cắp và bỏ trốn (Castiglia, 2000).
Thất bại trong học tập, mối quan hệ không tốt với bạn bè, các vấn đề về hành vi, xung đột với cha mẹ, và lạm dụng chất gây nghiện là một số hậu quả của chứng rỗi loạn trầm cảm chủ yếu ở nhóm tuổi này (Hauenstein, 2003). Ngoài ra, nó còn tạo ra gánh nặng đáng kê cho cá nhân, gia đình và xã hội do làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tăng tỷ lệ tử vong và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống trong thời gian tâm trang bị tram cảm nghiêm trong. Giang Ngọc Thụy Vy & Tran Thanh Nam (2017) cũng b6 sung thêm, các biểu hiện như vấn đề về giấc ngủ, giảm chú ý và các van đề thực thể cũng là những hệ lụy khó bỏ qua được ở thanh niên. Hậu quả nặng nề và nghiêm trọng nhất có lẽ vẫn là việc họ lựa chọn rời bỏ cuộc sống.
Các nghiên cứu về nguyên nhân rồi loạn tram cảm Nguyên nhân của trầm cảm rất phức tạp, kết hợp của nhiều yếu tố và còn nhiều tranh luận (Rey và cộng sự, 2015). Trong nghiên cứu của Giang Ngọc Thụy Vy & Trần Thành Nam (2017), các khách thé tin rằng nguyên nhân gây ra trầm cảm gồm nguyên nhân tâm lý, sinh học và xã hội. Thế nhưng, cách nhận định này vẫn mang tính chất chung chung và do đó, các nhà nghiên cứu thường đề cập/sử dụng cụm từ “các yếu tố nguy cơ” (risk factors) nhiều hơn dé nói tới ngọn nguồn cho sự khởi phát của tram cảm. Theo cách này, các học giả có thê được tiếp cận tới nhiều hơn những yếu tổ mang tính cụ thé, đa dạng về nguyên nhân dẫn tới trầm cảm, và phản ánh được tính phong phú và độc nhất của mỗi cá nhân.
Đề đem lại một góc nhìn toàn thể và chỉ tiết hơn, Rey và cộng sự (2015) có thu thập và đưa ra một bang tổng hợp các yếu tố nguy co dẫn tới tram cảm (Bảng 1). Các yếu tố nguy cơ của tram cảm theo Rey và cộng sự (2015) Sinh học Tâm lý e Tiền sử gia đình trầm cảm Phối hợp với các bệnh lý tâm thần e Cha mẹ lạm dụng rượu hoặc sử khác, đặc biệt là lo âu dụng chất gây nghiện Kiểu tính khí dé xúc động hoặc tâm e Giới tính nữ căn e Tiền sử gia đình có rồi loạn cảm Kiểu nhận thức tiêu cực, lòng tự trọng xúc lưỡng cực thấp e Bệnh lý mãn tính Sang chan e_ Giai đoạn tuôi dậy thì Thiệt hại và mat người thân e_ Tiền sử tram cảm trước đó Gia đình Xã hội e Lam dụng, bỏ mặc Bắt nạt e Phong cách nuôi dạy con tiêu Trẻ em và thanh thiếu niên phạm tội cực: “Từ chối, thiếu quan tâm” Trẻ nhũ nhi hoặc trong các trại giáo e_ Cha mẹ bị rối loạn tâm thần dưỡng, người ti nạn, vô gia cư, người e Mau thuân cha mẹ-con cái xin ti nạn 1. Các nghiên cứu về đánh giá và can thiệp rối loạn tram cảm ở thanh niên Bên cạnh việc chân đoán, đánh giá (assessment) cũng là một khâu vô cùng quan trong trong can thiệp với thân chủ mắc tram cảm. Một cuộc phỏng van lâm sàng có cau trúc và các thang đánh giá khác nhau sẽ rất hữu ích trong việc xác định xem một đứa trẻ hoặc thanh thiếu niên có bị tram cảm hay không (Son & Kirchner, 2000).
Nhìn chung, việc đánh giá tram cảm có thé bao gồm một số công cụ chính là quan sát lâm sàng, hỏi chuyện lâm sảng và sử dụng các công cụ đánh giá. Phỏng vấn lâm sàng đã được coi là nền tảng của tất cả các phương pháp điều trị sức khỏe tâm thần và được cho là kỹ năng có giá trị nhất giữa các nhà tâm lý học và các nhà thực hành sức khỏe tâm thần khác (Sommers-Flanagan và cộng sự, 2015). Trò chuyện lâm sàng, hay phỏng vấn lâm sàng, là phương pháp chủ đạo, mang tính đặc thù của Tâm lý học lâm sàng (Nguyễn Thị Minh Hằng và cộng sự, 2017). Để đánh giá được mức độ trầm cảm ở thân chủ, trò chuyện lâm sàng là một điều buộc cần có.
Thông qua tương tác qua lại giữa nhà tâm lý và thân chủ, các manh mdi, thông tin hay những lớp ý nghĩa tiềm an dang sau cuộc hội thoại ngôn ngữ và phi ngôn ngữ sẽ được bộc lộ. Với trầm cảm, nhà tâm lý luôn có thé xem xét mức độ nghiêm trọng của những suy nghĩ, hành vi, phản ứng cam xúc và đời song sinh hoạt thông qua phan phản hồi của chủ. Bên cạnh việc hỏi chuyện, quan sát lâm sàng cũng là một phương thức đánh giá cần thiết đối với các nhà thực hành. Quan sát lâm sàng cho phép nhà tâm lý tri giác những biểu hiện sinh động ở các mặt nhận thức, thái độ, xúc cảm, hành vi, các cơ chế phòng vệ của thân chủ trong những hoàn cảnh cụ thé (Nguyén Thi Minh Hang và cộng sự, 2017).
Việc tận dụng tối đa kỹ năng quan sát sẽ tạo điều kiện cho nhà tâm lý ghi nhận những biểu hiện, diễn biến đa dạng của các vấn đề từ phía thân chủ. Quan sát lâm sàng và trò chuyện lâm sàng luôn cần song hành với nhau dé nâng cao hiệu quả đánh giá.