CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN: 1. Khái niệm về Sars- CoV- 2: Vào cuối tháng 12 năm 2019, một nhóm bệnh nhân được đưa vào bệnh viện với chẩn đoán ban đầu là viêm phổi không rõ nguyên nhân. Những bệnh nhân này có liên quan về mặt dịch tễ học với một chợ bán buôn hải sản và động vật hoang dã ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.
Tác nhân gây bệnh đã được xác định là một loại coronavirus mới [7]. Nhóm Nghiên cứu Coronavirus (CSG) thuộc Ủy ban phân loại virus quốc tế (ICTV), cơ quan chịu trách nhiệm phát triển phân loại chính thức của virus và danh pháp (taxonomy) của họ Coronaviridae, đã dựa trên phát sinh loài, phân loại học và thực tiễn đã được thiết lập, chính thức công nhận loại vi rút này có họ hàng với coronavirus hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS-CoV) của loài coronavirus và chỉ định nó là coronavirus hội chứng hô hấp cấp tính nặng 2 ( SARS-CoV-2 ), tên tiếng anh là: Severe acute respiratory syndrome coronavirus the 2nd. SARS-CoV-2 thuộc nhóm coronavirus (Betacoronavirus), họ Coronaviridae trong bộ Nidovirales có đường kính 65–125 nm và chứa một sợi RNA có chiều dài từ 26 đến 32 kb. Coronavirus bao gồm một số loại, chẳng hạn như alpha, beta, gamma, delta, H5N1 cúm A, H1N1 2009, và và cùng nhóm với coronavirus gây hội chứng hô hấp ở Trung Đông (MERS-CoV) và coronavirus hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS-CoV) là nguyên nhân gây ra dịch SARS và bùng phát MERS lần lượt vào năm 2003 và 2012 [7].
Ngày 11 tháng 02 năm 2020, WHO công bố tên chính thức căn bệnh do coronavirus mới gây ra sẽ được đặt tên là COVID-19 [8]. 3 SARS-CoV-2 đã nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới với nhiều quốc gia và được WHO tuyên bố là đại dịch toàn cầu vào ngày 11 tháng 3 năm 2020 [9]. Triệu chứng lâm sàng: Khởi phát: Triệu chứng hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi và đau cơ. Có thể bị đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và tiêu chảy.
Một số trường hợp có biểu hiện rối loạn khứu giác hoặc tê lưỡi. Diễn biến: Hầu hết người bệnh (khoảng hơn 80%) chỉ sốt nhẹ, ho, mệt mỏi, không bị viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng một tuần. Tuy nhiên, một số trường hợp không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nào. Khoảng gần 20% số bệnh nhân diễn biến nặng, thời gian trung bình từ khi có triệu chứng ban đầu tới khi diễn biến nặng thường khoảng 5-8 ngày.
Các biểu hiện nặng bao gồm: viêm phổi, viêm phổi nặng cần nhập viện…Trong đó khoảng 3 5% cần điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực với các biểu hiện hô hấp cấp (thở nhanh, khó thở, tím tái, …), hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), rối loạn đông máu, tổn thương vi mạch gây huyết khối và tắc mạch, viêm cơ tim, sốc nhiễm trùng, suy chức năng các cơ quan bao gồm tổn thương thận và tổn thương cơ tim, dẫn đến tử vong. Thời kỳ hồi phục: Sau giai đoạn toàn phát 7-10 ngày, nếu không có ARDS bệnh nhân sẽ hết sốt các dấu hiệu lâm sàng dần trở lại bình thường và khỏi bệnh 1. Khái niệm trầm cảm: Theo Bảng phân loại thống kê Quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan, bản sửa đổi lần thứ 10 (ICD-10): trầm cảm (Depression) là một rối loạn cảm xúc thường được biểu hiện bằng khí sắc trầm; mất mọi quan tâm hay thích thú; giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động; các triệu chứng tồn tại trong khoảng thời gian ít nhất 2 tuần. Ngoài ra, còn có thể có các triệu chứng khác như (1) giảm sự tập chung chú ý; (2) giảm tính tự trọng và lòng tự tin; (3) ý tưởng bị tội và không xứng đáng; (4) nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan; (5) ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát; (6) rối loạn giấc ngủ; (7) ăn ít ngon miệng.
4 Trước đó, Hippocrates sử dụng thuật ngữ “Melancholia” là tình trạng mất cân bằng chất mật đen trong cơ thể khiến cho buồn bã, sợ hãi, “tối đen” [10] Sau đó Jean Esquirol (1772-1840), đã đặt ra thuật ngữ “Lypemania” như một từ đồng nghĩa với u sầu nó đã được định nghĩa là một bệnh lý não, được đặc trưng một phần bởi mê sảng mãn tính, không sốt và sự buồn bã dai dẳng, suy nhược hoặc bức bối. Năm 1874, Richard von Krafft-Ebing (1840-1902)- một trong những bác sĩ tâm thần kinh nói tiếng Đức đã viết về chứng bệnh u sầu như sau: “hiện tượng cơ bản trong chứng mất trí u sầu chỉ đơn giản là suy nhược tinh thần, biểu hiện cơ bản của cơn đau tâm thần”. Quan điểm của Emil Kraepelin về bệnh u sầu (melancholia) có thể được tìm thấy trong ấn bản đầu tiên của cuốn sách giáo khoa của ông xuất bản năm 1883, ông thấy hội chứng này phát sinh từ "tâm lý" khi "cảm giác không hài lòng, lo lắng và sự đau khổ nói chung mạnh đến mức nó liên tục chi phối tâm trạng ” [11] Năm 2003, Andrew Colman đã định nghĩa rõ hơn: “ trầm cảm là một trạng thái buồn bã, vô vọng và những ý nghĩ bi quan, cùng với sự mất hứng thú hoặc mất sự thỏa mãn, hài long trong những hoạt động trước đây”, trường hợp nghiêm trong hơn có thể xảy ra “ chứng biếng ăn và hậu quả là sụt cân, mất ngủ ( đặc biệt là chứng mất ngủ vào khoảng giữa hoặc cuối của giấc ngủ) hoặc chứng ngủ nhiều, suy nhược, cảm giác vô giá trị hoặc tội lỗi, mất khả năng suy nghĩ hoặc tập chung, những ý nghĩ tái diễn về cái chết hoặc tự tử. Nó xuất hiện như nhiều triệu chứng của rối loạn tâm thần ” [12] Theo Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần lần thứ 5 của Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM – V, 2013): Trầm cảm là một rối loạn tâm trạng nghiêm trọng và phổ biến.
Những người bị trầm cảm trải qua cảm giác buồn bã và tuyệt vọng dai dẳng và mất hứng thú với các hoạt động mà họ từng yêu thích. Ngoài các vấn đề về cảm xúc do trầm cảm gây ra, các cá nhân cũng có thể biểu hiện bằng các triệu chứng thể chất như đau mãn tính hoặc các vấn đề tiêu hóa. Để được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm, các triệu chứng phải xuất hiện ít nhất hai tuần [13]. Không phải ai bị trầm cảm cũng trải qua mọi triệu chứng.
Một số người chỉ gặp một vài triệu chứng trong khi những người khác có thể gặp nhiều triệu chứng. Một số triệu chứng dai dẳng cùng với tâm trạng thấp là cần thiết để chẩn 5 đoán trầm cảm nặng, nhưng những người chỉ có một số triệu chứng - nhưng buồn bã - có thể có lợi khi điều trị chứng trầm cảm “trầm cảm” của họ. Mức độ nghiêm trọng và tần suất của các triệu chứng và thời gian chúng kéo dài sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng cá nhân và bệnh tật cụ thể của họ. Các triệu chứng cũng có thể khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn bệnh [14].
Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm: DSM-5 đưa ra tiêu chí sau để chẩn đoán trầm cảm. Cá nhân đó phải trải qua năm triệu chứng trở lên trong cùng khoảng thời gian 2 tuần và ít nhất một trong các triệu chứng phải là (1) tâm trạng chán nản hoặc (2) mất hứng thú hoặc vui vẻ.Tâm trạng chán nản hầu hết trong ngày, gần như mỗi ngày.Giảm hứng thú hoặc niềm vui rõ rệt đối với tất cả, hoặc hầu như tất cả, các hoạt động hầu hết trong ngày, gần như mỗi ngày.Giảm cân rõ rệt khi không ăn kiêng hoặc tăng cân, giảm hoặc tăng cảm giác thèm ăn gần như mỗi ngày.Suy nghĩ chậm lại và giảm vận động (người khác có thể quan sát được chứ không chỉ cảm giác bồn chồn chủ quan hoặc bị chậm lại).Mệt mỏi hoặc mất năng lượng gần như mỗi ngày.Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không phù hợp gần như mỗi ngày.Khả năng suy nghĩ hoặc tập trung giảm sút, hoặc thiếu quyết đoán, gần như mỗi ngày.Suy nghĩ về cái chết, ý định tự tử lặp đi lặp lại mà không có kế hoạch cụ thể hoặc có ý định tự sát hoặc kế hoạch cụ thể để tự sát. Khái niệm lo âu: Lo âu (Anxiety) là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn tới. Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa.
Lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe doạ được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh, 6 có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ quá mức hay vô lý đó gọi là lo âu bệnh lý Người ta thường cho rằng lịch sử của rối loạn lo âu là gần đây, trước thế kỷ XIX nó hầu như không được biết đến đó là một căn bệnh. Nhưng điều đó không hoàn toàn đúng, có những dấu hiệu cho thấy rằng lo âu đã được xác định rõ ràng là một ảnh hưởng tiêu cực riêng biệt và là một chứng rối loạn riêng biệt bởi các nhà triết học và bác sĩ Hy Lạp-La Mã. Trong Tusculan Disputations, Cicero (106 TCN đến 43 TCN) đã viết rằng đau khổ (molestia), lo lắng (sollicitudo), và lo âu (angor) được gọi là rối loạn (aegritudo), do sự tương đồng giữa tâm trí rắc rối và một cơ thể bệnh tật, với lo âu (angor) được đặc trưng lâm sàng là rối loạn “co thắt” (premens) Giữa thời cổ đại và tâm thần học hiện đại, đã có một khoảng thời gian hàng thế kỷ khi khái niệm lo âu được coi như một căn bệnh dường như đã biến mất khỏi các ghi chép bằng văn bản. Bệnh nhân lo âu vẫn còn tồn tại, nhưng họ được chẩn đoán bằng các thuật ngữ chẩn đoán khác.
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lo âu là một thành phần quan trọng của nhiều loại chẩn đoán mới, từ suy nhược thần kinh đến chứng loạn thần. George Miller Beard lần đầu tiên mô tả chứng suy nhược thần kinh vào năm 1869. Các triệu chứng của nó rất đa dạng bao gồm có triệu chứng lo âu. Sigmund Freud đã tách chứng loạn thần kinh lo âu khỏi chứng suy nhược thần kinh.
Kể từ thế kỷ XX, lo âu cũng là một rối loạn trong phân loại tâm thần học. Ngưỡng lâm sàng giữa lo lắng thích ứng bình thường trong cuộc sống hàng ngày và lo âu bệnh lý đau buồn cần điều trị tùy thuộc vào đánh giá lâm sàng [15].