CHƯƠNG 1 Chương đầu tiên trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu thông qua lý do dẫn dắt để hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng quát, ý nghĩa và bố cục. Những nội dung này tạo cơ sở cho việc nghiên cứu chi tiết hơn về các cơ sở lý thuyết liên quan và xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo. Luan van 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 đề tài trình bày các cơ sở lý luận và các nghiên cứu có liên quan thu nhập của nông hộ. Các lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài và các giả thuyết nghiên cứu.
Tổng quan cơ sở lý thuyết 2. Khái niệm hộ Vương Thị Vân (2009) đưa ra 3 tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình: Thứ nhất họ có quan hệ huyết thống và hôn nhân; Thứ hai họ có cùng cư trú và thứ ba họ có chung cơ sở kinh tế. Đa phần các hộ gia đình ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống. Do đó, khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với thuật ngữ gia đình và thậm chí có thể gộp chung thành thuật ngữ hộ gia đình.
Phạm Thị Hương Dịu (2009) có cùng quan điểm với Vương Thị Vân (2009) nhưng có phần mở rộng khái niệm hơn khi cho rằng hộ gia đình là nhóm người cùng huyết tộc và hôn nhân. Gia đình hạt nhân là gia đình có một vợ, một chồng và con cái của họ. Và đây là được xem là đơn vị cơ bản của xã hội. Gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ con người khác nhau cung chung sống dưới một mái nhà.
Theo đó, khi đã là một hộ gia đình thì thành viên trong gia đình phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo đời sống cho các thành viên khác. Từ quan niệm trên cho thấy hộ gia đình được hiểu là tập hợp chủ yếu và phổ biến của những người có quan hệ hôn nhân và chung huyết thống với nhau, tuy vậy cũng có trường hợp đặc biệt thành viên của hộ không phải cùng chung huyết thống nhưng vẫn được xem là gia đình (như trường hợp con nuôi, người được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài. Khái niệm nông hộ Luan van 8 Nông hộ hay hộ nông dân là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp. Bên cạnh đó họ còn tham gia một số hoạt động khác nhằm mục đích gia tăng thu nhập cho họ nhưng đó chỉ là hoạt động không chính thức.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về nông hộ: Chayanov (1925) cho rằng hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, đó vừa là một đơn vị sản xuất, đồng thời là một đơn vị tiêu dùng. Hộ nông dân là một doanh nghiệp không sử dụng lao động làm thuê mà họ chỉ sử dụng lao động chính là các thành viên trong gia đình. Ellis (1993) cho rằng hộ nông dân là các hộ gia đình thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất trong hoạt động nông nghiệp, sử dụng chủ yếu lao động là những thành viên gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao. Đào Thế Tuấn (1997) định nghĩa hộ nông dân là những hộ gia đình chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các nghề làm rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc FAO (2007) định nghĩa nông hộ là những hộ có các hoạt động trong các ngành bao gồm nghề trồng trọt, nghề rừng, nghề cá, nghề chăn nuôi và nghề nuôi trồng thủy sản. Các sản phẩm hình thành qua quá trình quản lý và tổ chức sản xuất bởi các thành viên trong hộ gia đình và đa phần dựa vào lao động là thành viên trong gia đình. Nông hộ dù có nhiều khái niệm từ các nhà nghiên cứu, tổ chức nhưng có những điểm chung sau đây: Đó là những hộ gia đình sống ở khu vực nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp; nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông; vừa là đơn vị kinh tế cơ sở, đơn vị sản xuất và đơn vị tiêu dùng. Kinh tế nông hộ Luan van 9 Phạm Anh Ngọc (2008) cho rằng kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế cơ bản có hiệu quả và tự chủ trong lĩnh vực nông nghiệp.
Kinh tế nông hộ được tạo thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất và kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp trong mọi hoàn cảnh xã hội. Chayanov (1924) định nghĩa kinh tế nông hộ là một phương thức sản xuất có thể tồn tại trong mọi chế độ xã hội khác nhau trong lịch sử. Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao mà bất kể thu nhập đó có nguồn gốc ở đâu như trồng trọt, chăn nuôi hay đó là kết quả lao động chung của gia đình (trích trong Đào Thế Tuấn, 1995). Ở Việt Nam, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” ra đời thì hộ được tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, toàn quyền điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra.
Như vậy, theo Mai Thị Thanh Xuân và Đặng Thị Thu Hiền (2013), kinh tế hộ gia đình là một tổ chức tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, theo đó các thành viên trong hộ gia đình có tài sản chung, cùng đóng góp chung công sức với nhau để hoạt động kinh tế chủ yếu trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực khác theo quy định pháp luật. Thu nhập nông hộ Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được mà một người hay hộ gia dình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định. Singh và Strass (1986) định nghĩa thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ hoạt động nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp. Theo Chayanov (1925), thu nhập hộ nông dân khác với các xí nghiệp tư bản.
Hộ nông dân là một doanh nghiệp không sử dụng lao động làm thuê mà chỉ sử dụng lao Luan van 10 động gia đình, trong khi đó xí nghiệp tư bản chủ yếu thuê lao động ngoài gia đình. Thu nhập hộ nông dân được xác định là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí vật chất. Tổng cục thống kê (2010) định nghĩa thu nhập nông hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật có thể quy đổi thành tiền sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất mà các thành viên trong hộ nhận được trong khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm. Các khoản thu nhập của nông hộ bao gồm: (1) Tiền thu từ tiền công, tiền lương; (2) Tiền thu từ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp (đã trừ đi chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Tiền thu từ ngành nghề phi nông, lâm, ngư nghiệp (đã trừ đi chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Tiền thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, vay thuần túy, thu nợ, bán tài sản và các khoản chuyển nhượng vốn).
Tóm lại, thu nhập của nông hộ được xác định là thu nhập bằng tiền và giá trị hiện vật còn lại sau khi trừ chi phí sản xuất mà hộ và thành viên của hộ nhận được trong một thời kỳ nhất định. Công thức như sau: Thu nhập bình quân đầu người/hộ = Thu nhập của nông hộ/Số nhân khẩu 2. Tổng quan nghiên cứu trước đây 2. Nghiên cứu nước ngoài Theo nghiên cứu của Ghafoor và cộng sự (2010) về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập và tiết kiệm của nông hộ tại huyện Sargodha, tỉnh Punjab của Parkistan.
Mục tiêu nghiên cứu tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập và tiết kiệm của nông hộ, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó và gợi ý các chính sách. Tác giả đã chọn 6 biến để đưa vào mô hình: Độ tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất sản xuất, số lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chi phí gia đình, chi phí sản xuất nông nghiệp. Tác giả đã sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tiến hành khảo sát 90 hộ nông dân trong huyện Sargodha. Kết quả cho thấy biến trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất sản xuất, chi phí sản xuất nông nghiệp, số Luan van 11 lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng có ý nghĩa đến thu nhập nông hộ.
Nghiên cứu của Parvin và Akteruzzaman (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ vùng Haor ở Bangladesh. Tác giả đã sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản, phỏng vấn 60 nông dân vùng Haor. Mô hình được tác giả đề xuất có 5 biến: tuổi của chủ hộ, số người trong hộ, quy mô đất sản xuất, trình độ học vấn, thu nhập phi nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 biến ảnh hưởng có ý nghĩa đến thu nhập của nông hộ là: số người trong hộ, quy mô đất sản xuất, thu nhập phi nông nghiệp.
Nghiên cứu của Thabit (2015) về phân tích kinh tế các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ canh tác theo phương thức truyền thống ở Nam tiểu bang Darful ở Sudan nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó. Tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 7 biến độc lập: tuổi của chủ hộ, số người trong hộ, số lao động trong hộ, các hoạt động tạo thu nhập, diện tích canh tác, khoảng cách từ nhà đến chợ và biến giả là điều kiện thời tiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 biến ảnh hưởng có ý nghĩa đến thu nhập của nông hộ: tuổi của chủ hộ, các hoạt động tạo thu nhập, diện tích canh tác, điều kiện thời tiết. Từ kết quả nghiên cứu tác giả đã gợi ý nhiều chính sách nhằm nâng cao thu nhập của nông hộ sản xuất theo phương thức truyền thống ở Nam tiểu bang Darful, Sudan.