Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường chứng khoán thành phố hồ chí minh năm 2007 và 2010 luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ phân tích ảnh hưởng của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2007-2010.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

100
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát hành bổ sung

Phát hành bổ sung cổ phiếu là một trong những phương pháp quan trọng mà các công ty sử dụng để huy động vốn. Trong giai đoạn 2007-2010, thị trường chứng khoán TP.HCM đã chứng kiến nhiều công ty thực hiện phát hành bổ sung nhằm tăng cường vốn chủ sở hữu. Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, giá cổ phiếu sẽ phản ánh tất cả thông tin công bố, bao gồm cả thông tin về phát hành bổ sung. Nghiên cứu cho thấy rằng, khi công ty công bố phát hành bổ sung, giá cổ phiếu thường có xu hướng giảm sau thông báo, điều này phản ánh sự điều chỉnh của thị trường đối với thông tin mới. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, sự biến động giá cổ phiếu có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tình hình kinh tế, phương pháp phát hành và tâm lý nhà đầu tư. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam, việc phát hành bổ sung không chỉ đơn thuần là một chiến lược tài chính mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc định hình giá trị cổ phiếu của công ty.

1.1. Tại sao các doanh nghiệp lựa chọn phát hành bổ sung

Các doanh nghiệp thường lựa chọn phát hành bổ sung để tăng vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất hoặc đầu tư vào các dự án mới. Phát hành bổ sung mang lại nhiều lợi ích so với việc vay vốn, như không phải trả lãi suất cố định và giảm thiểu rủi ro tài chính. Đặc biệt, trong bối cảnh lãi suất vay cao, phát hành cổ phiếu bổ sung trở thành một lựa chọn hấp dẫn. Hơn nữa, việc phát hành bổ sung cũng giúp cải thiện tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, từ đó nâng cao sức khỏe tài chính của công ty. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cần cân nhắc đến tác động của việc phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu, vì điều này có thể dẫn đến sự hoài nghi từ phía nhà đầu tư về khả năng sinh lời trong tương lai.

1.2. Biến động giá khi phát hành bổ sung

Biến động giá cổ phiếu khi công bố phát hành bổ sung thường diễn ra theo xu hướng giảm. Nghiên cứu cho thấy rằng, giá cổ phiếu có thể tăng trước khi công bố phát hành, nhưng sẽ giảm sau thông báo. Điều này phản ánh tâm lý thị trường và sự điều chỉnh của nhà đầu tư đối với thông tin mới. Các nghiên cứu tại các thị trường phát triển như Mỹ và Anh đã chỉ ra rằng, giá cổ phiếu thường giảm trong khoảng thời gian sau khi công bố phát hành bổ sung. Tuy nhiên, tại các thị trường mới nổi, như Việt Nam, tình hình có thể khác biệt do sự thiếu hụt thông tin và sự không đồng nhất trong phản ứng của nhà đầu tư. Do đó, việc nghiên cứu biến động giá cổ phiếu trong bối cảnh thị trường chứng khoán TP.HCM là cần thiết để hiểu rõ hơn về tác động của phát hành bổ sung.

II. Tác động của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu

Nghiên cứu về tác động của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn 2007-2010 cho thấy rằng, phát hành bổ sung có thể tạo ra những biến động đáng kể trong giá cổ phiếu. Các yếu tố như phương pháp phát hành, quy mô phát hành và tình hình kinh tế vĩ mô đều có ảnh hưởng đến phản ứng của thị trường. Khi công ty công bố phát hành bổ sung, nhà đầu tư thường phản ứng bằng cách điều chỉnh giá cổ phiếu dựa trên kỳ vọng về khả năng sinh lời trong tương lai. Điều này cho thấy rằng, việc phát hành bổ sung không chỉ đơn thuần là một hành động tài chính mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc định hình giá trị cổ phiếu của công ty.

2.1. Phân tích tác động theo phương pháp phát hành

Các phương pháp phát hành bổ sung khác nhau có thể dẫn đến những tác động khác nhau lên giá cổ phiếu. Ví dụ, phát hành quyền mua có thể tạo ra sự kỳ vọng tích cực từ phía nhà đầu tư, trong khi phát hành cổ tức bằng cổ phiếu có thể không được đánh giá cao bằng. Nghiên cứu cho thấy rằng, các công ty thực hiện phát hành bổ sung thông qua phương pháp phát hành quyền mua thường có xu hướng ghi nhận mức tăng giá cổ phiếu cao hơn so với các phương pháp khác. Điều này cho thấy rằng, nhà đầu tư có thể nhìn nhận phát hành quyền mua như một tín hiệu tích cực về triển vọng tăng trưởng của công ty.

2.2. Tác động của tình hình kinh tế vĩ mô

Tình hình kinh tế vĩ mô cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tác động của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu. Trong giai đoạn kinh tế thuận lợi, nhà đầu tư có xu hướng phản ứng tích cực hơn đối với các thông báo phát hành bổ sung, dẫn đến sự tăng giá cổ phiếu. Ngược lại, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, nhà đầu tư có thể trở nên thận trọng hơn, dẫn đến sự giảm giá cổ phiếu sau khi công bố phát hành. Do đó, việc phân tích tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô là cần thiết để hiểu rõ hơn về phản ứng của thị trường đối với phát hành bổ sung.

III. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu về ảnh hưởng của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn 2007-2010 đã chỉ ra rằng, phát hành bổ sung có tác động đáng kể đến giá cổ phiếu. Các công ty cần cân nhắc kỹ lưỡng về thời điểm và phương pháp phát hành để tối ưu hóa lợi ích từ việc huy động vốn. Hơn nữa, việc cung cấp thông tin minh bạch và kịp thời cho nhà đầu tư cũng là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu sự hoài nghi và tăng cường niềm tin của nhà đầu tư. Để nâng cao hiệu quả của phát hành bổ sung, các công ty nên xây dựng chiến lược phát hành rõ ràng và phù hợp với tình hình thị trường.

3.1. Khuyến nghị cho các công ty niêm yết

Các công ty niêm yết nên xem xét việc phát hành bổ sung như một công cụ chiến lược để huy động vốn. Việc lựa chọn phương pháp phát hành phù hợp và thời điểm công bố thông tin là rất quan trọng. Hơn nữa, các công ty cần chú trọng đến việc truyền thông hiệu quả để đảm bảo rằng nhà đầu tư hiểu rõ về lý do và lợi ích của việc phát hành bổ sung. Điều này không chỉ giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư mà còn góp phần ổn định giá cổ phiếu trong thời gian dài.

3.2. Đề xuất cho nhà đầu tư

Nhà đầu tư cần theo dõi sát sao các thông tin liên quan đến phát hành bổ sung để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý. Việc hiểu rõ về tác động của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu sẽ giúp nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan hơn về tình hình tài chính của công ty. Đồng thời, nhà đầu tư cũng nên cân nhắc đến các yếu tố kinh tế vĩ mô và tâm lý thị trường khi đưa ra quyết định đầu tư.

25/01/2025
Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường chứng khoán thành phố hồ chí minh năm 2007 và 2010 luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT HÀNH BỔ SUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÁT HÀNH BỔ SUNG TRÊN THẾ GIỚI Chương này sẽ nêu một cách khái quát những nghiên cứu về phát hành bổ sung của một số tác giả tiêu biểu trên thế giới và làm rõ những phương pháp để đo lường mức độ biến động giá chứng khoán mà các tác giả này đã sử dụng, có sự khác biệt gì giữa những phương pháp này không hay và phương pháp nào là tối ưu để đo lường suất sinh lợi bất thường; giá chứng khoán biến động ở giai đoạn trước, trong và sau sự kiện phát hành như thế nào, những nguyên nhân gì có thể tạo ra sự khác biệt này; mức độ bất thường của giá chứng khoán giữa các nền kinh tế, trong các giai đoạn thị trường liệu có giống nhau hay không và tại sao lại có sự khác biệt này? 1.1 Tạo sao các doanh nghiệp lựa chọn phát hành bổ sung để tăng vốn Trong quá trình hoạt động của mình, khi công ty có nhu cầu huy động thêm nguồn vốn để mở rộng quy mô sản xuất , đầu tư vào các dự án kinh doanh… , công ty có thể tài trợ nhu cầu tăng thêm này bằng cách sử dụng vốn vay hoặc có thể tiến hành tăng vốn chủ sở hữu thông qua hình thức phát hành bổ sung cổ phần. Cả hai phương pháp tài trợ này đều có những ưu và nhược điểm khác nhau, tuy nhiên không thể phủ nhận những lợi ích của việc sử dụng vốn tăng thêm thông qua phát hành cổ phần bổ sung mang lại so với việc sử dụng vốn vay. Có thể kể đến những điểm như sau:  Thứ nhất, phát hành bổ sung cổ phiếu thường có nghĩa là tăng thêm vốn tự có, song không bị ràng buộc nghĩa vụ trả lợi tức cố định, do đó có lợi cho doanh nghiệp trong trường hợp thu nhập chưa cao, không dẫn đến nguy cơ phá sản vì mất khả năng chi trả.  Thứ hai, doanh nghiệp thực sự cần vốn để thực hiện các dự án mới và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Mặt khác, đối với các dự án rủi ro cao và kết 123doc -6- quả lợi nhuận không thực sự tốt thì doanh nghiệp cũng có xu hướng dùng vốn cổ phần nhiều hơn so với dùng vốn nợ nhằm tăng tính an toàn về tài chính.  Thứ ba, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc vay vốn với lãi suất chấp nhận được từ ngân hàng đã làm cho kênh huy động vốn cổ phần được ưu tiên hơn. Bên cạnh đó, cổ phiếu còn là loại chứng khoán không có kỳ hạn, nên doanh nghiệp cũng không phải lo đến việc trả nợ khi đáo hạn.  Thứ tư, cũng có những doanh nghiệp phát hành thêm chỉ để đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu.

Khi công ty đang có mức tỷ lệ nợ cao, việc phát hành thêm sẽ làm giảm tỷ lệ này. Điều này giúp cho công ty ở trong tình trạng tài chính lành mạnh, giảm thiểu rủi ro thanh khoản cũng như nguy cơ vỡ nợ từ nguồn vốn vay.  Thứ năm, khi thị trường định giá cổ phiếu của doanh nghiệp cao hơn giá trị nội tại. Phát hành thêm trong trường hợp này sẽ tạo ra lợi nhuận tài chính cho doanh nghiệp, và thực chất là tăng phần lợi nhuận cho nhà đầu tư hiện hữu.

 Thứ sáu, trong tình hình tín dụng bị thắt chặt, vốn có vay được thì phải trả với lãi suất cao, việc chia thưởng hoặc cổ tức bằng cổ phiếu so với chia bằng tiền mặt sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giữ vốn để tái đầu tư, mở rộng quy mô và phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.2 Tổng quan về phát hành bổ sung 1.1 Phát hành bổ sung Phát hành bổ sung được nghiên cứu rộng rãi và kỹ lưỡng trên thế giới từ nhiều thập niên. Từ khi Lý thuyết thị trường hiệu quả ra đời, nghiên cứu phát hành bổ sung được coi là một trong những con đường chứng minh thị trường hiệu quả bậc trung bình (Semi-strong Form of Efficient Market Hypothesis). Theo đó, mức giá hiện tại của chứng khoán sẽ phản ánh tất cả các thông tin được công bố ra thị trường. Nếu điều này là đúng, sẽ không có nhà đầu tư nào thu được phần lợi nhuận bất thường (lợi nhuận 123doc -7- vượt trội) từ những thông tin mới này.

Vì vậy, nếu thị trường ở dạng hiệu quả bậc trung bình, giá chứng khoán sẽ được điều chỉnh theo những thông tin tốt hoặc xấu ngay khi những thông tin này được công bố. Khi công ty quyết định phát hành cổ phần mới, tất cả những thông tin này sẽ được phản ánh vào giá chứng khoán vào ngày công bố (announcement day). Do đó, bắt đầu từ ngày Giao dịch không hưởng quyền (ex – rights date) sẽ không có bất kỳ thông tin nào mới, vì vậy, dưới giả thuyết thị trường hiệu quả bậc trung bình sẽ không có bất kỳ phần lợi nhuận bất thường nào được ghi nhận vào sau ngày này. Có thể liệt kê 19 vấn đề của phát hành bổ sung được quan tâm trong “Seasoned Equity Offerings: a Survey” của B.

W Masulis (1994), bao gồm: lựa chọn tự tái đầu tư lợi nhuận giữ lại hay phát hành ra công chúng, ảnh hưởng các phương pháp phát hành bổ sung, ảnh hưởng các phương pháp bảo lãnh phát hành, bối cảnh kinh tế thuận lợi hay khó khăn, chi phí của các đợt phát hành. Rất nhiều nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu công ty, nói khác đi các nghiên cứu này định giá “thông báo phát hành”, xem việc thông báo phát hành được các nhà đầu tư “suy diễn” như thế nào, làm tăng hay giảm giá cổ phiếu.2 Biến động giá khi phát hành bổ sung Nhìn chung, nếu giá tăng trước khi công bố phát hành thì sẽ giảm sau khi công bố phát hành. Điều này đã được chứng minh tại thị trường phát triển như Hoa Kỳ hay Anh Quốc. Nếu coi ngày công bố là ngày 0, giá của cổ phiếu đã giảm theo quan sát của Hansen (1989) và Eckbo và Masulis (1992) tại thị trường Mỹ.

Tại Anh, mức độ giảm giá trong vòng 2 ngày là -1. Tuy nhiên, kết quả ngược lại đã được quan sát thấy khi thực hiện phát hành bổ sung cổ phần thông qua phương pháp phát hành quyền tại những thị trường mới nổi như Malaysia (Salamudin, 1999), Hàn Quốc (Kang, 1990 và Dhatt, 1996), Nhật bản (Kang và Stulz,1996), Hy Lạp ( Tsangarakis,1996) và Singapore (Tan,2002). Tại thị trường Singapore, mức giá tăng trước khi công bố phát hành quyền, tuy nhiên, mức giá lại điều chỉnh giảm ở giai đoạn sau thông báo (Ariff và Finn,1989; Srinivasan và See,1990). Những nghiên cứu tại thị trường Malaysia lại cho thấy những kết quả trái ngược trong giai đoạn tiền công bố.

Phoon (1990) đã chứng minh rằng có sự tăng giá của cổ phiếu trong khi Annuar và Shamsher (1993) lại phát hiện mức lợi nhuận bất thường giảm trong giai đoạn một tháng trước thông báo phát hành. Hay như tại thị trường Hàn Quốc, giai đoạn tích lũy của giá xuất hiện trước thông báo phát hành hai tháng và tiếp tục duy trì trong hai tháng sau đó.3 Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về giá khi thông báo phát hành bổ sung được đưa ra  Những giả định dựa trên thông tin về mức độ phản ứng của giá (Information- based Theories of Stock Price behavior) Khi tìm hiểu những nguyên nhân có thể gây ra biến động của giá cổ phiếu khi thông báo phát hành bổ sung được đưa ra, nguyên nhân đầu tiên được coi là nền tảng và cần được nhắc đến đầu tiên chính là vấn đề về sự bất cân xứng trong thông tin (information asymmetry) – một cụm từ dùng để chỉ rằng các giám đốc biết nhiều hơn về các tiềm năng, rủi ro và các giá trị của công ty mình hơn là các nhà đầu tư từ bên ngoài. Giả thuyết về thông tin bất cân xứng đưa đến một khả năng khá hấp dẫn và làm cho mức giá cổ phiếu tăng là khi thị trường nhận thấy sự hiện diện của những cơ hội đầu tư triển vọng từ các công ty phát hành. Một trong những nguyên nhân các công ty phát hành cổ phiếu là nhằm thu hút nguồn vốn tăng thêm để tài trợ những dự án có hiện giá giá trị thuần cao.

Sự hiện diện của những cơ hội đầu tư thuận lợi được xem như là một thông tin tốt đối với nhà đầu tư và điều này sẽ thúc đẩy họ mua vào cổ phiếu của những công ty đưa ra thông tin phát hành. McConnel và Muscarella (1985) đã chứng minh rằng phản ứng của nhà đầu tư sẽ rất tích cực nếu các công ty công bố kế hoạch chi tiêu 123doc -9- vốn của mình. Hay nói cách khác, với giả định về thông tin bất cân xứng, phản ứng của thị trường đến quyết định phát hành sẽ phụ thuộc vào tài năng của công ty trong việc ra tín hiệu thông tin về những dự án đầu tư hứa hẹn. Ambarish và các cộng sự (1987) đã chỉ ra rằng, những nhà đầu tư sẽ phản ứng một cách tích cực xung quanh ngày thông báo phát hành bổ sung cổ phần nếu như công ty có thể đưa ra những dấu hiệu về những cơ hội đầu tư triển vọng.

Trong khi đó, Cooney và Kalay (1993) đã cho thấy phản ứng lên giá cổ phiếu của nhà đầu tư sẽ rất khả quan nếu như thị trường tiên đoán có những cơ hội đầu tư mang lại lợi nhuận cho công ty được tài trợ bằng nguồn vốn phát hành thêm này. Vì thế, có một dự đoán rằng, những công ty tăng trưởng cao và có nhiều cơ hội đầu tư, đặc biệt là tại những nền kinh tế mới nổi có tốc độ tăng trưởng cao, sẽ thu được suất sinh lợi cao và ngược lại. Dierkens (1991), Jung và các cộng sự (1996) đã sử dụng tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của cổ phiếu như là biểu hiện của những cơ hội đầu tư tốt đẹp hay triển vọng tăng trưởng của các công ty và nhận thấy nó có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với suất sinh lợi ở giai đoạn thông báo phát hành. Tác giả Pilotte (1992) lại chia mẫu nghiên cứu của mình thành những công ty có tốc độ tăng trưởng cao và những công ty có tốc độ tăng trưởng thấp dựa trên tiêu chí về chính sách cổ tức của công ty đó.

Những công ty không chia cổ tức sẽ được liệt vào danh sách những công ty tăng trưởng còn những công ty có mức chi trả cổ tức cao hoặc ổn định là những công ty đã có lịch sử phát triển lâu dài hay còn gọi là những công ty trưởng thành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Ảnh hưởng của phát hành bổ sung lên giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán TP.HCM (2007-2010)" phân tích tác động của việc phát hành cổ phiếu bổ sung đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn từ 2007 đến 2010. Tác giả chỉ ra rằng việc phát hành bổ sung có thể dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong giá cổ phiếu, ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư và quyết định đầu tư. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà các công ty niêm yết có thể tối ưu hóa chiến lược phát hành cổ phiếu để nâng cao giá trị cổ phiếu và thu hút nhà đầu tư.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh nghiên cứu ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trên ttck việt nam". Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và quyết định đầu tư.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Luận án nghiên cứu mối quan hệ giữa lợi suất cổ phiếu và thanh khoản thị trường trường hợp các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam", nơi phân tích mối liên hệ giữa lợi suất cổ phiếu và thanh khoản, một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá giá trị cổ phiếu.

Cuối cùng, bài viết "Luận án nghiên cứu tác động của quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam" sẽ cung cấp thêm thông tin về cách quản trị công ty ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá trị cổ phiếu, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố tác động đến thị trường chứng khoán.