MỞ ĐẦU 1. Ly do chọn vấn đề nghiên cứu Ké từ sau đại dịch Covid, kế hoạch hanh động trên toan thế giới được đây mạnh do tỷ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng (da Silva và cộng sự, 2021). Nhiều nghiên cứu cho thấy các vấn đề liên quan tới lo âu là một trong những vấn đề tâm thần xuất hiện phô biến nhất và gây ra tác động tới đa dạng các nhóm dân số khác nhau (Asmundson và Taylor, 2020; Pera, 2020). Rối loạn lo âu được đặc trưng bởi sự lo âu và lo âu quá mức, kết hợp với các rối loạn tâm lý và cơ thể như kích động, mệt mỏi, khó tập trung, khó chịu và khó ngủ (Borza, 2022).
Các triệu chứng lo âu diễn ra có thê liên quan đến sự thiếu hụt hay rút lui khỏi các chức năng xã hội, và góp phần giảm chất lượng cuộc sống (Asmundson và Taylor, 2020; Park va cộng sự, 2014). Ngoài ra, những thanh niên gặp vấn đề về lo âu cũng có kết quả học tập thấp hơn những thanh niên khác (Hill và cộng sự, 2016). Hơn nữa, lo âu có thể làm giảm lòng tự trọng và mức độ hạnh phúc (Woodward và cộng sự, 2001). Ngoài ra, khá nhiều nghiên cứu cho thấy rối loạn lo âu thường xảy ra đồng thời với các rỗi loạn khác như tram cảm nặng, rỗi loạn triệu chứng cơ thé, rối loạn nhân cách và rối loạn lam dụng chất gây nghiện.
Vì vậy, rối loạn lo âu không chỉ gây ra gánh nặng kinh tế to lớn và làm giảm chất lượng cuộc sống mà còn trở thành một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các hành vi lạm dụng chất kích thích và tự tử ở thanh niên (Hoffman và cộng sự, 2008). Nếu không được điều trị, chứng rối loạn lo âu có xu hướng phát triển thành mãn tính và thường kéo dài đến tuôi trưởng thành (Hill và cộng sự, 2016). Tuy nhiên, chưa đến 50% thanh niên bị rối loạn tâm thần được điều trị chuyên khoa (Ye và cộng sự, 2014). Đặc biệt, rất khó để xác định sự lo âu ở những người trẻ tuổi vì biểu hiện ở thanh thiếu niên có thé không rõ ràng như người lớn (Park và cộng sự, 2014).
Tại Việt Nam không có nhiều nghiên cứu riêng về tỷ lệ lo âu trên toàn quốc. Kết quả của Điều tra sức khoẻ tâm thần vị thành niên Việt Nam thực hiện trên 6048 hộ gia đình tại 38 tỉnh thành của Việt Nam (Institute of Sociology, 2022) cho thay rang 21,7% trẻ vị thành niên Việt Nam có vấn đề về sức khỏe tâm thần (tínhi đủ và một nửa biểu hiện theo các ngưỡng triệu chứng dựa trên DSM 5), trong đó lo âu là van đề phổ biến nhất (18,6%). Theo thang DISC-5, các triệu chứng của vấn đề sức khỏe tinh thần này gây ra sự suy giảm trong 4 khía cạnh của cuộc sống như sau: Gia đình (67%), bạn bè đồng trang lứa (47%), trường học hoặc công việc (45,4%) và đau khổ cá nhân (34,6%). Một nghiên cứu khác về dịch tễ học trên toàn quốc của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 về 10 rối loạn tâm thần phổ biến giai đoạn 2001-2003, cho thay khoảng 14,9% dân số có vấn đề liên quan đến rối loạn tâm thần, trong đó lo âu là 2,6%.
Những nghiên cứu trên nhóm đối tượng thanh niên như học sinh, sinh viên cũng cho thấy tỷ lệ lo âu cao hơn mặt bằng chung dân số (15%) (Trung tâm truyền thông - Giáo dục sức khỏe trung ương, 2019). Những nghiên cứu trên cho thấy tại Việt Nam, các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và cụ thê hơn là những công bố về can thiệp lo âu còn nhiều khoảng trống. Do vậy, với thực trạng trên, học viên lựa chọn thực hiện đề tài: “Trị liệu tâm lý cho một trường hợp có biểu hiện rối loạn lo âu” làm chủ đề của luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Tâm lý học lâm sảng định hướng ứng dụng. Nhiệm vụ nghiên cứu e Trình bày cơ sở lý luận về rối loạn lo âu thông qua tổng quan tài liệu, nhằm hiểu các van dé dịch té học của lo âu e Đánh giá, chân đoán một trường hợp có biéu hiện rối loạn lo âu ° Áp dụng liệu pháp CBT nhằm can thiệp, trị liệu tâm lý cho một trường hợp cụ thể e Đưa ra kết luận và khuyến nghị góp phan làm phong phú thêm dữ kiện về thực hành trị liệu tâm lý trong can thiệp rối loạn lo âu.
CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BIEU HIEN ROI LOAN LO ÂU 1. Tổng quan nghiên cứu về rối loan lo âu 1.L Dịch té học về rỗi loạn lo âu Rối loạn lo âu đang càng ngày càng được quan tâm nhiều hơn trên toàn thế giới. Tỷ lệ mắc rối loạn lo âu có xu hướng tăng cao, khởi phát sớm và khả năng tái phát trong một thời gian dài. Theo nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD) năm 2019, thế giới hiện có 45,82 triệu (KTC 95% (UI): 37,14, 55,62) người mắc chứng rỗi loạn lo âu, 28,68 triệu năm song duoc diéu chinh theo tinh trang khuyét tat (DALY) (95% UI: 19,86, 39,32) (Yang va cộng sự, 2021).
Kê từ năm 1990, số lượng người mắc rối loan lo âu tăng 50%, du cho tỷ lệ gánh nặng rối loạn lo âu chung theo độ tuôi vẫn ôn định trong ba thập kỷ qua (Vos và cộng sự, 2020). Nghiên cứu phân tích tổng hợp dịch tễ học quy mô lớn đầu tiên qua 192 nghiên cứu (n = 708.561) cho thấy tỷ lệ người khởi phát rối loạn tâm thần trước 14, 18, 25 tudi lần lượt là 34,6%, 48,4%, 62,5%. Trong đó, rối loạn liên quan đến lo âu/sợ hãi là nhóm rối loạn có tỷ lệ khởi phát cao thứ hai, với tỷ lệ khới phat năm 14, 18, 25 tudi là 38,1%, 51,8%, 73,3% (k = 73, OR = 17, IQR = 9-25) (Solmi và cộng sự, 2022). Tỷ lệ hiện mắc của các loại rối loan lo âu cao nhất ở những đối tượng từ 25 đến 44 tuôi và thấp nhất ở những đối tượng trên 65 tuổi (Martin, 2022).
Du vậy nghiên cứu dịch té học về rối loạn lo âu trong thé kỷ 21 cho rang tỷ lệ phổ biến của một số rối loạn tâm than trong cộng đồng dường như bị phóng đại quá mức (Bandelow và Michaelis, 2015). Nguyên nhân có thể là do những người phỏng van không chuyên, điểm cắt không rõ ràng dé xác định các trường hợp lâm sàng, hay rất khó dé vạch ra ranh giới rõ ràng giữa nỗi lo âu bệnh lý và nỗi lo lắng có cơ sở đối với chứng rối loạn lo âu. Nếu không được điều trị, rối loạn lo âu có xu hướng phát triển mạn tính, với kiểu tái phát lúc tăng lúc giảm trong suốt cuộc đời, điều này chắc chắn sẽ gây lãng phí rất nhiều nguồn lực y tế và gánh nặng kinh tế xã hội (Kessler và cộng sự, 2010). Trong khi đó, nghiên cứu của Correll và cộng sự chỉ ra rằng can thiệp sớm khi mới có triệu chứng rối loạn tâm thần có thể cải thiện một số kết quả (Correll và cộng sự, 2018).
Tại Việt Nam, không có nhiều nghiên cứu toàn quốc riêng về tỷ lệ lo âu. Tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở Việt Nam từ 8% đến 29% đối với trẻ em và vị thành niên, với những khác biệt về tỷ lệ tùy theo tỉnh, giới tính và đặc điểm của người trả lời (Unicef, 2018). Một khảo sát dịch tễ học năm 2014 trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh/thành cho thấy mức trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em vào khoảng 12%, tương đương hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần (Weiss và cộng sự, 2014). Cu thé hơn, điều tra dịch tễ học đại diện toàn quốc theo Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 về 10 rối loạn tâm thần phổ biến giai đoạn 2001-2003 cho thay 10 rối loạn tâm thần phô biến nhất cộng lại có tỷ lệ mắc khoảng 14,9% dân số.
Phổ biến nhất trong sỐ này là lạm dụng rượu (5,3%), tram cảm (2,8%) và lo âu (2,6%) (Vuong và cộng sự, 2011). Báo cáo tổng kết nội bộ của Bệnh viện Nhi Trung Ương cho biết từ năm 2019 đến năm 2023, tỷ lệ bệnh nhân lo âu khám ngoại trú trên tông số bệnh nhân luôn tăng (từ 2,3% đến 9,2%). Trung bình năm năm tỷ lệ số người khám ngoại trú mắc lo âu là 5,9%. Ngoài ra, báo cáo cũng cho biết tỷ lệ bệnh nhân lo âu điều trị nội trú trung bình trong 5 năm là 12,7%, trong đó phần trăm cao nhất là năm 2022 là 17,7%.
Trong số những bệnh nhân nhập viện điều trị, tỷ lệ rỗi loạn lo âu tram cảm chiếm tỷ lệ cao thứ hai sau các rối loạn liên quan đến stress (39,6%) (Khoa sức khỏe vị thành niên Bệnh viện Nhi Trung Ương, 2023). Với tình hình dịch tễ học miêu tả như trên, rối loạn lo âu là một trong những rồi loạn tâm thần phô biến nhất ảnh hưởng tới dân số nói chung và thanh niên nói riêng trên toàn thế giới. Các yếu tô liên quan ảnh hưởng tới sự hình thành va phát triển của rối loạn lo âu Có nhiều yếu tố liên quan tới cơ chế bệnh sinh của rỗi loạn lo âu như: sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố sinh học, cơ chế tâm lý cá nhân và ảnh hưởng của môi trường sông (Schiele và cộng sự, 2018). Cụ thê một số yêu tố như: - Tuôi Nghiên cứu tông quan trên 24 nghiên cứu cho thấy ước tính độ tuôi khởi phát của tất cả các rồi loạn lo âu là 21,3 năm (KTC 95%: 17,46 - 25,07) (De Lijster và cộng sự, 2017).
Khởi phát sớm, đặc biệt là thời thơ ấu có khả năng làm tram trọng mức độ rỗi loạn hơn (Anholt và cộng sự, 2014), xuất hiện nhiều hành vi né tránh hơn, và thậm chí ty lệ tự tử cao hon (Tibi và cộng sự, 2013). - Giới tính Kết quả nghiên cứu dịch tễ học toàn thế giới năm 2019 cho thấy tỷ lệ mắc chứng rỗi loạn lo âu ở nữ giới cao hơn nam giới 1,6 lần (Yang và cộng sự, 2021). Một nghiên cứu khác của Bandelow và cộng sự năm 2015 cho thấy rằng phụ nữ bị rối loạn lo âu gần gấp đôi so với nam giới và khoảng 1/3 phụ nữ có thé bị rối loạn lo âu ít nhất một lần trong đời (Bandelow va Michaelis, 2022).