chương I, điều 1, luật số 57/2020/QH14 bộ luật thanh niên “thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”. Tác giả quyết định lay độ 13 tuổi thanh niên sử dụng trong luận văn này là từ đủ 16 đến 30 tuổi dựa theo quy định trên của bộ luật thanh niên. Khái niệm về lo âu Hiệp Hội Tâm Ly Học Hoa Ky (American Psychological Association — APA) đưa ra định nghĩa về lo âu như sau: “Lo âu là cảm xúc đặc trưng bởi sự e ngại và các triệu chứng căng thăng trong đó cá nhân lường trước nguy cơ sắp xảy ra, thảm họa hoặc sự bất hạnh. Trước những mối de dọa đó, cơ thé có phản ứng như: căng cơ, hơi thở nhanh và tim đập nhanh.
Lo âu khác với lo sợ về khái niệm và sinh lý, mặc dù hai thuật ngữ này thường được sử dụng thay thế cho nhau. Lo âu được coi là một phản ứng xảy ra trong thời gian dài, có định hướng trong tương lai, tập trung vào một mối đe doa lan tỏa; trong khi lo sợ là phản ứng phù hợp với tình huống hiện tại, xảy ra trong thời gian ngăn với một mối đe dọa cụ thể, rõ ràng. Trong từ điển tâm lý học của Vũ Dũng năm 2008 có định nghĩa khái niệm lo âu như sau: “Lo âu là trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thé. Trạng thái cảm xúc xuất hiện trong các tình huéng nguy hiểm không xác định và được thé hiện trong việc chờ đợi sự tiễn triển không thuận lợi của sự kiện.
Khác với hoảng sợ, được coi là một phản ứng đối với một đe doa cụ thé nào đó, lo âu thé hiện sự sợ hãi chung chung, mang tính lan truyền, không có đối tượng và thường có liên hệ với việc chờ đợi điều không may trong tương tác xã hội và thường được tạo bởi sự không có ý thức được nguồn gốc của mỗi nguy hiểm. Khi lo âu ở cấp độ sinh lý, nhịp thở tăng, nhịp đập nhanh hơn, huyết áp cao hơn, hưng phan tăng, ngưỡng tri giác giảm. Về mặt chức năng, lo âu không chỉ cảnh báo về nguy có thé xảy ra, mà còn kích thích tìm kiếm và cụ thé hóa mối nguy hiểm đó, tích cực tìm hiểu thực tế với mục đích xác định đối tượng đe dọa. Lo âu có thể biéu hiện như cảm giác về sự bat lực, thiếu tự tin vào bản thân, bat lực trước các yếu tố bên ngoài, phóng dai sức mạnh va tinh đe doa của chúng.
Biểu hiện về hành vi của lo âu nằm ở chỗ hóa giải và các hoạt động làm ảnh hưởng đến xu hướng và hiệu quả của hoạt động. Lo 14 âu như một cơ chế phát triển loạn thần kinh chức năng — lo âu loạn tâm hình thành trên cơ sở các mâu thuẫn bên trong quá trình phát triển và cầu thành tâm lý. Ví dụ: từ mức độ gắn bó (như phụ thuộc giữa con và mẹ) cao, thiếu cơ sở đạo đức cho động cơ có thé dẫn tới tin tưởng một cách bat hợp lý về mối đe dọa từ những người khác, của chính cơ thé mình, kết quả từ chính hành động của mình. Trong nghiên cứu thực nghiệm người ta phân ra: e Lo âu tình huống - biểu hiện đặc điểm trạng thái hiện thời của cá nhân.
e Lo âu như một nét nhân cách - tính lo âu thiên hướng trải nghiệm lo âu cao từ những nguy hiểm thực tế hoặc tưởng tượng. e Có thé giảm lo âu với sự trợ giúp của cơ chế bảo vệ như loại trừ, thay thé, hợp lý hóa, phóng chiếu. Từ hai định nghĩa trên có thê thấy, lo âu là phản ứng tự nhiên của con người trước những sự vật, sự việc, hiện tượng, con người, mối quan hệ. được đánh giá là khó khăn, nguy hiểm và cần phải vượt qua.
Lo âu như là một chỉ báo giúp con người chuẩn bị cho những khó khăn sắp gặp phải cũng như là một cơ chế bảo vệ ban thân khỏi những mối nguy hiểm tiềm an. Tuy nhiên khi lo âu xuất hiện một cách liên tục và kéo dài hay xuất hiện ngay cả khi có những nguyên nhân không có thực hay không rõ ràng sẽ dẫn đến lo âu mang tính bệnh lý, hay nói cách khác là các rỗi loạn lo âu. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm lo âu của Hiệp Hội Tâm Lý Hoc Hoa Ky (American Psychological Association — APA). Khái niệm về rồi loạn lo âu lan tỏa La một trong những rối loạn ở mức phổ biến khi có khoảng 25% thân chủ rối loạn lo âu thuộc dạng rỗi loạn lo âu lan tỏa.
Tổ chức Y Tế Thế Giới định nghĩa rối loạn lo âu lan tỏa hay GAD là “một trong những dạng rối loan lo âu thường gặp. Biéu hiện thường thấy ở những người có GAD là những mối lo dai dăng nhưng lại không tập trung vào một sự kiện, hoàn cảnh hay sự vật nào cụ thé và tiến triển theo hướng mãn tính” (WHO 1992). Hiệp Hội Tâm Lý Học Hoa Kỳ APA đề cập đến rối loạn lo âu lan tỏa như là “sự e ngại quá mức hay sự lo lăng vê những môi quan tâm (ví dụ như các sự kiện 15 trên thế giới, tài chính, sức khỏe, ngoại hình, hoạt động của các thành viên trong gia đình và bạn bè, công việc hoặc trường học) kèm theo các triệu chứng như bồn chồn, mệt mỏi, suy giảm khả năng tập trung, cáu kinh, căng cơ và rối loạn giấc ngủ. GAD được chân đoán khi người bệnh khó kiểm soát được những nỗi lo cũng như những triệu chứng đi kèm, đồng thời những triệu chứng đó xảy ra trong khoảng thời gian từ ít nhất 6 tháng trở lên”.
Dựa vào những định nghĩa trên có thể nhận thấy rằng đặc điểm chính của GAD là việc thân chủ có những sự e ngại, lo lắng về những vấn đề xảy ra xung quanh một cách quá mức và không tập trung vào một vấn đề nào cụ thể trong khoảng thời gian đài. Người mắc GAD cũng có khả năng mắc những rối loạn đồng diễn khác như tram cảm, stress cấp và rối loạn giấc ngủ. Trong luận văn này, chúng tôi thong nhất sử dụng định nghĩa GAD của Hiệp Hội Tâm Lý Học Hoa Kỳ. Người mắc GAD thường xuyên rơi vào tình trạng lo lắng trường diễn vì họ có xu hướng muốn trải qua trạng thái đau khổ kéo dai như một cách dé chuẩn bị tinh thần cho kết quả xấu nhất có thể xảy ra với các sự kiện khác nhau (Newman & Llera, 2011).
Người bi GAD cảm thấy buộc phải chuẩn bị tinh thần đối với các sự kiện tiêu cực mọi lúc để tránh cảm giác bị bị hụt hang hay tôn thương mạnh mẽ ngay khi tiếp xúc với vấn đề gây nên sự tiêu cực. Tuy nhiên, rất ít người mắc GAD thực sự tìm đến việc trị liệu rối loạn mà bản thân đang gặp phải (Kessler, Walters, & Witchen, 2004). Nguyên nhân dẫn đến rối loạn lo âu lan tỏa Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới GAD, song những yếu tố dẫn đến lo âu nói chung và rối loạn lo âu nói riêng bao gồm: các sang chan tâm lý, yếu tố nhân cách, yếu tô cơ thê và yếu tố môi trường (Nguyễn Việt, 1984). Những yếu to gây sang chan tâm lý Sang chan tâm lý hình thành thông qua việc các sự kiện thường mang yếu tổ bat ngờ, mat mát, gây tôn thương về thể chất, gây ám ảnh.
xảy ra trong quá khứ tác động vào nhận thức và gây ra những cảm xúc mạnh nhưng chủ yêu là tiêu cực. 16 Việc thân chủ có sang chấn có thé là một trong những nguyên nhân gây ra GAD ở thời điểm hiện tại. Yếu tổ nhân cách Việc thân chủ có nguy cơ mắc GAD cũng phụ thuộc vào yếu tố nhân cách. GAD thường xảy ra với tỷ lệ nhiều hơn ở những người có loại hình thần kinh không 6n định so với loại hình thần kinh ôn định.
Tương tự như vậy, tỷ lệ kiểu nhân cách hướng nội có khả năng mac GAD cao hon so với kiểu nhân cách ổn định. Một nghiên cứu tại Viện sức khỏe tâm thần Bạch Mai cho thấy số người có kiểu nhân cách hướng nội và không ổn định chiếm tỷ lệ 122/158 ca có GAD, chiếm tỷ lệ 71,2%. Các phương pháp đánh giá 1. Quan sát lâm sàng trong đánh giá rồi loạn lo âu Việc quan sát lâm sàng giúp nhà trị liệu nhìn thấy được những biểu hiện thực tế của các quá trình và trạng thái tâm lý cũng như những vấn đề mà thân chủ thê hiện trong môi trường cụ thể cũng như trong việc tương tác với người xung quanh.
Quan sát lâm sàng giúp nhà tâm lý tri giác những biéu hiện sinh động ở các mặt nhận thức, thái độ, xúc cảm, hành vi, các cơ chế phòng vệ của thân chủ trong những hoàn cảnh cụ thé. Thời gian quan sát càng nhiều thì càng giúp nhà trị liệu đánh giá vấn đề của thân chủ một cách chính xác và chỉ tiết hơn từ đó đem lại giá trị cao hơn cho cả các số liệu ở mặt định lượng lẫn định tính. Quá trình quan sát của nhà trị liệu không chỉ diễn ra một cách tự phát mà cần có mục đích quan sát cũng như lập kế hoạch quan sát. Việc quan sát của nhà trị liệu cần đảm bảo được việc xác định xem những hành vi nào cần đặc biệt tập trung quan sát, hoàn cảnh và điều kiện quan sát diễn ra như thế nào.
Quan sát lâm sàng cũng không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trị liệu. Nhà trị liệu có thé hướng dẫn cho người thân của thân chủ quan sát những hành vi của thân chủ tại gia đình theo các chỉ dan mà nhà trị liệu đưa ra dé cung cấp thêm một nguồn thông tin quan trọng cho việc đánh giá và trị liệu. Không chỉ là một phương pháp trong việc nghiên cứu tâm lý, quan sát lâm sang còn cung cap cho nha tri liệu những giả thuyét về các van đê mà thân chủ gặp 17 phải. Quan sát lâm sàng cung cấp những dữ liệu giúp nhà trị liệu xây dựng các giả thuyết và củng cô hoặc bác bỏ những giả thuyết đưa ra về van dé mà thân chủ gặp phải hoặc xác định xem thân chủ đang gặp những vấn đề gì.
Quan sát lâm sàng giúp cho nhà tri liệu nhìn nhận được thân chủ trong tương quan các mối quan hệ xã hội và tác động qua lại của họ đối với môi trường một cách sinh động.