CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRAM CẢM 1. Tổng quan một số nghiên cứu về Trầm cảm 1. Nghiên cứu dịch tễ về tram cảm Nghiên cứu của Jones, Mitra và Bhuiyan (2021) đã tiến hành đánh giá hệ thống 16 nghiên cứu định lượng được thực hiện trong năm 2019-2021 với 40.076 người tham gia, cho thấy nhóm thanh thiếu niên thuộc các hoàn cảnh khác nhau đang có tỉ lệ lo lăng, trầm cảm và căng thăng cao hơn trong thời gian đại dịch COVID-19. Và một nghiên cứu khác của nhóm tác giả đến từ Hoa Kỳ (Catherine K.Cohen và cộng sự, 2021), nghiên cứu trên một nhóm đại diện toàn quốc gồm những người trưởng thành ở Hoa Kỳ, cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm tăng cao từ năm 2020 là 27,8% lên 32,8% vào năm 2021 đặc biệt là những người có thu nhập thấp và gặp phải những yếu tố gây căng thăng liên quan đến đại dịch COVID-19.
Một nghiên cứu khác của nhóm tác gia Jayanthi, Thirunavukarasu, & Rajkumar, 2015 ở Ấn Độ cho kết quả trẻ vị thành niên gặp căng thắng trong học tập có nguy cơ tram cảm cao hơn 2,4 lần so với trẻ vị thành niên không có căng thang trong học tập và trẻ em gái vị thành niên có căng thắng trong học tập cao hơn trẻ em trai. Còn theo nghiên cứu của Hartlage, Alloy, Va’zquez và Dykman vao năm 1993 cho thay tram cảm có thé làm suy giảm chức năng nhận thức vì trẻ vị thành niên mac tram cảm tập trung vào những suy nghĩ và diễn giải tram cảm thay vì các nhiệm vụ thực tế hoặc vì trầm cảm trực tiếp làm ảnh hưởng đến nhận thức hoặc do cả hai lý do này.Lim và cộng sự (2018) đã đưa ra tổng quan các nghiên cứu về tỷ lệ trầm cảm trong cộng đồng của 30 quốc gia từ năm 1994 — 2014, với kết quả cho thấy tỷ lệ người mắc trầm cảm tại thời điểm nghiên cứu là 12,9%, tỷ lệ người đã mắc tram cam trong vòng một năm gan nhất là 7,2% và tỷ lệ người có thé mắc tram cảm bắt cứ lúc nào trong đời là 10,8%. Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy phụ nữ có tỷ lệ tram cao hơn nam gidi. Nhóm nghiên cứu, Khadijiah Shamsuddin và cộng sự (2013) với nghiên cứu về “ Mối tương quan giữa trầm cảm, lo lắng và căng thắng ở sinh viên đại học Malaysia” (Correlates of depression, anxiety and stress among Malaysian university students).
Nghiên cứu trên 506 sinh viên với độ tuổi từ 18 — 24 tuổi thuộc bốn trường đại học công lập, kết quả cho thấy 27,5% sinh viên trầm cảm ở mức vừa; 9,7% sinh viên trầm cảm ở mức nặng và rất nặng. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Dat (2003) về “ Kết quả chan đoán tram cảm ở học sinh trung học phô thông Hà Nội”, với 566 khách thể nghiên cứu là học sinh bốn trường trung học phổ thông thuộc dia ban Hà Nội. Kết quả cho thấy, 8,8% học sinh bị trầm cảm trong đó có 6,7% học sinh có dấu hiệu trầm cảm nhẹ; 1,5% học sinh có dấu hiệu tram cảm vừa và 0,5% học sinh có dấu hiệu tram cảm nặng. Nghiên cứu “ Thực trạng tram cảm ở học sinh trung học phổ thông: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và Thành phố Hà Nội” của tác giả Trần Thị My Lương cho thấy 20% số học sinh tham gia khảo sát có biểu hiện trầm cảm ở các mức độ khác nhau với đa số là mức trầm cảm nhẹ còn tỉ lệ trầm cảm nặng chỉ khoảng 1% trong tông số khách thé nghiên cứu là 708 học sinh.
Luận văn thạc sỹ Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên “ Điều tra tỷ lệ trẻ em và vị thành niên ở miền Bắc có các van đề sức khoẻ tâm thần” của tác giả Nguyễn Cao Minh (2012) nghiên cứu trên lứa tuổi 12 đến 16 cho thấy thu mình và tram cảm chiếm 6,6% các van đề sức khoẻ tinh than. Nghiên cứu của các tác giả Cao Tiến Đức, Bùi Quang Huy, Huỳnh Ngọc Lăng về “ Nghiên cứu tỷ lệ rối loạn tram cảm chủ yếu ở một số đơn vị quân đội” với 4.353 quân nhân thuộc Quân chủng Hải Quân và Quân đoàn 3, với kết quả cho thấy có 0,71% mắc tram cảm ở mức độ nhẹ và tỷ lệ trầm cảm quân nhân ở độ tudi từ 21 — 25 tuổi cao nhất so với các nhóm tuổi khác. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hướng đến tram cảm Nghiên cứu của Ah-Ram Kim và cộng sự (2021) với nghiên cứu phân tích các yêu tố ảnh hưởng đến tram cảm ở người trung niên và người lớn tuổi ở Hàn Quốc, với phương pháp phân tích dữ liệu về đặc điểm nhân khẩu học, lối sống, chất lượng cuộc sống, mức độ nhận thức và trầm cảm. Kết quả phân tích cho thấy trầm cảm có tương quan với tuổi tác, giới tính, khu dân cư, trình độ học vấn, uống rượu, tập thé dục thường xuyên, sự hai lòng trong cuộc sống và trình độ nhận thức.
Trong đó đáng chú ý trầm cảm bị ảnh hưởng nhiều bởi tuổi tác, khu dân cư, tập thể dục thường xuyên, sự hài lòng trong cuộc sống và mức độ nhận thức. Những người thường tham gia các hoạt động thé chat ở mức độ cao và những người tham gia các hoạt động thé thao thì có ít nguy cơ bị tram cảm, một nghiên cứu của Joshi và cộng sự (2016) cho biết. Nghiên cứu của Cong Enzhao và cộng sự (2019) về mối quan hệ giữa y định tự tử ở tuổi vị thành niên với môi trường gia đình và khả năng phục hồi tâm lý, với 2960 thanh thiếu niên tham gia nghiên cứu, kết quả thu được 247 trường hợp có ý định tự tử, trong đó có 98 nam và 149 nữ và qua phân tích dir liệu thu được cho thay việc gần gũi trong môi trường gia đình là yếu tố bảo vệ ý tưởng tự tử của thanh thiếu niên, cấu trúc gia đình của trẻ nam và biểu hiện tình cảm gia đình của trẻ nữ cũng có thế làm giảm nguy cơ tự tử, việc tăng cường khả năng phục hồi tâm lý có thé làm giảm ý tưởng tự tử của thanh thiếu niên. Sau nhóm này cũng đã thực hiện nghiên cứu khác về mối liên hệ giữa trầm cảmở tuổi vị thành niên, ý tưởng tự tử và phong cách nuôi dạy con cái của Cong Enzhao và cộng sự (2021), trong số 6194 thanh thiếu niên tham gia nghiên cứu thì có 1333 người bị trầm cảm và 508 người có ý định tự tử.
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy trầm cảm ở thanh thiếu niên có mối tương quan thuận với sự kiểm soát của mẹ, cha còn có mối tương quan nghịch với sự chăm sóc của người mẹ, cha điều này có nghĩa là sự chăm sóc của cha, mẹ có thé làm giảm nguy co trầm cảm ở thanh thiếu niên còn việc kiểm soát của cha, me có thể làm tăng nguy cơ trầm cảm ở thanh thiếu niên. Nghiên cứu của nhóm tác giả, Kaewpila W, Thaipisuttikul P, Awirutworakul T, Jumroonrojana K, Pitidhammabhorn U, Stevens E, với nghiên cứu “ Rối loạn trầm cảm ở sinh viên y khoa Thái Lan: một nghiên cứu khám phá các yếu tố thể chế, văn hoá và cá nhân” (Depressive disorders in Thai medical students: an exploratory study of institutional, cultural, and individual factors) cho thấy, các nhóm yếu tố liên quan đến tram cảm của sinh viên gồm: yếu tố di truyền, hành vi lối sống, mối quan hệ cộng đồng xã hội, thành tích học tập, động lực học tập, môi trường học tập và chương trình giáo dục y tế. Một nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Dậu và cộng sự về “ Rối loạn lo âu, trầm cảm ở trẻ vị thành niên mắc bệnh thận mạn và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2022 — 2023”: nghiên cứu được tiễn hành trên 243 trẻ vị thành niên, kết quả cho thấy có 42,4% trẻ mắc lo âu, 25,5% trẻ mắc trầm cảm và 25,1% trẻ mắc lo âu, tram cảm. Nghiên cứu cũng cho thay kết quả, có mối tương quan khi phân tích đơn biến có so sánh thì cho thấy trẻ có thời gian điều trị trên 3 năm có nguy cơ lo âu, trầm cảm cao gấp (2,1 — 3,6) lần so với trẻ có thời gian điều trị dưới 1 năm và trẻ có số lần nhập viện trên 5 lần có nguy cơ lo âu, tram cảm cao gấp (2,3 — 5) lần trẻ có số lần nhập viện ít hơn.
Nghiên cứu của các tác giả Đinh Việt Hùng, Phạm Ngọc Thảo với đề tài “ Nghiên cứu các yếu tố liên quan ở bệnh nhân tram cảm sau sinh” với 31 đối tượng bệnh nhân trầm cảm sau sinh cho thấy, các yếu tố nhóm tuổi, sự hỗ trợ của gia đình, giới tính của đứa con, tiền sử thai sản, hình thức sinh đẻ và bạo lực có liên quan chặt chẽ tới trầm cảm sau sinh. Nhóm tác giả Lê Hồng Hoài Linh, Bùi Hồng Cam, Trương Trọng Hoàng và Tô Hoàng Linh với nghiên cứu “ Trầm cảm của sinh viên y khoa: Góc nhìn của sinh viên y khoa qua một nghiên cứu định tính” kết quả cho thấy sinh viên y khoa đã có nhận thức được tỷ lệ trầm cảm của sinh viên y khoa đang ngày một tăng, các yếu tố liên quan theo sinh viên cho rằng có tác động đến tỷ lệ tram cảm: tuổi, giới tính, thói quen ăn uống, thói quen ngủ, mối quan hệ với gia đình, mối quan hệ với bạn bè, gặp trở ngại khi tham gia các hoạt động xã hội, học lực, áp lực từ việc học, chương trình học. Qua các nghiên cứu thi cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng làm tăng nguy cơ mắc tram cảm. Bao gồm từ các yếu tổ di truyền, tính cách của cá nhân, tiền sử mắc các bệnh cơ thể nặng, mạn tính, các yếu tố liên cá nhân, mối quan hệ gia đình, bạn bè,.
hay là các áp lực khác trong môi trường sông của môi cá nhân. Nghiên cứu về điều trị tram cảm Nhiều nghiên cứu gần đây đều cho thấy tỷ lệ người mắc trầm cảm đang gia tăng, và trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong xã hội hiện nay, từ đó nhu cầu can thiệp hỗ trợ cho bệnh nhân tram cảm cũng tăng theo. Có rất nhiều nghiên cứu về các liệu pháp điều trị cho người mắc trầm cảm, trong số những liệu pháp này thì có liệu pháp được nhiều nhà tâm lý sử dụng và cũng có băng chứng cho thấy nó hiệu quả đối với những người mắc tram cam, đó là liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT), liệu pháp đem lại hiệu quả tích cực cho người mắc trầm cảm.