Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Điểm luận một số nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu dịch tétrên thégiới và trong nước Trên thé giới và ngay ở Việt Nam số lượng người mac chứng rối loạn cảm xúc nói chung và tram cảm nói riêng ngày cảng gia tăng và dé lại những hệ lụy lớn cho xã hội. Ty lệ dân số toàn cầu của tram cảm năm 2015 là 4,4%, tỷ lệ mắc ở nữ là 5,5% dân số và nam là 3,6% [37].
Theo thống kê của WHO (2005) tổng số người mắc trầm cảm trên Thế giới là 322 triệu người trong đó, gần một nửa số này ở Đông Nam Á và khu vực Tây Thái Bình Dương [36]. Từ năm 2005 - 2015 số người trầm cảm tăng 18.4%, điều này phản ánh sự gia tăng của trầm cảm trên Thế Giới [37]. Ngoài ra, tram cảm cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tự sát, đó là vấn đề lo ngại trong dư luận về tâm lý của giới trẻ. Ở Anh, vào năm 2004, tự tử hiện là nguyên nhân tử vong phổ biến nhất ở nam thanh niên trong độ tudi từ 25 đến 34.
Các nghiên cứu dịch té học cho thay rằng mặc dù các yếu tố như học kém, nghèo đói và không có việc làm là quan trọng, nhưng các yếu tố nguy cơ tự tử mạnh nhất ở nhóm này là tiền sử RLTT và tiền sử gia đình mắc bệnh tâm thần và có hành vi tự tử (Agerbo va cộng sự, 2002). Trong một nghiên cứu về những người trẻ tuổi (từ 15 đến 24 tuổi) tự tử thành công, Houston và cộng sự (2001) cho thay 19 trong số 27 người (70%) mắc RLTT. Trong đó, tram cảm là chân đoán phố biến nhất, ảnh hưởng đến 15 (56%) trong số những người được nghiên cứu; 8 người (30%) có vấn đề về rối loạn nhân cách và 9 người (33%) mắc chứng RLTT khác kèm theo. Đáng chú ý là rất ít trong số những thanh niên này được chăm sóc tâm thần trước khi họ qua đời.
Chiến lược Phòng chống Tự tử Quốc gia được công bố gần đây của Chính phủ (Bộ Y tế, 2002) thừa nhận tầm quan trọng của việc nhận biết và điều trị cải thiện các rối loạn tâm trạng ở thanh niên, đặc biệt là trong nhóm nam giới trẻ tuổi. Mặc dù hầu hết các nghiên cứu dịch tễ học ước tính rang khoảng 5% dân số trưởng thành bị tram cảm, nhưng có tương đối ít nghiên cứu tập trung vào quan thé thanh thiếu niên và thanh niên. 10% - chỉ một tỷ lệ nhỏ trong nhóm này có khả năng đến các dịch vụ SKTT [30]. Theo nghiên cứu của Rushton và cộng sự năm 2002, tỷ lệ thanh niên mắc RLTC chiếm khoảng 1,5% đến 8%, trong đó tỷ lệ thanh niên mắc trầm cảm nặng, rồi loạn nhịp tim là khoảng 1-2%.
Tỷ lệ này đang có xu hướng tăng lên, đặc biệt là ở thanh niên và phụ nữ [20]. RLTC là một van đề sức khỏe tâm than phổ biến ở thanh niên, ảnh hưởng đến tâm lý, thể chất và xã hội của họ. Mặc dù có các liệu pháp dựa trên bang ca vé dược lý va tâm lý đều hiệu qua, nhưng it nhất vẫn có một phan ba đến một nửa số thanh niên tram cảm van không đáp ứng với điều trị và gần một nửa sẽ tái phát trong vòng 4 năm [28]. Một phan năm thanh niên ở tuổi 19 đã từng trải qua tram cảm, và những giai đoạn này thường kéo dài từ 1 đến 2 năm.
Tuy nhiên, tram cảm ở thanh thiếu niên thường bị bỏ qua hoặc không được nhận biết [17]. Nghiên cứu cua Ellen Driessen va Steven D.Hollon (2010) cho thay tri liệu nhận thức hành vi (CBT) là một phương pháp điều trị trầm cảm hiệu quả, nó có hiệu quả trong điều trị trầm cảm giống như khi trị liệu bằng các liệu pháp tâm lý và điều trị bằng thuốc chống tram cảm. Khi được thực hiện day đủ, trị liệu CBT có thể có hiệu quả với người mac tram cảm nặng. Một nghiên cứu cho thấy rằng, trị liệu CBT hay uống thuốc đều đặn đều cho hiệu quả tương đương trong việc giảm tỷ lệ tái phát của rối loạn.
Một nghiên cứu thứ ba cho thấy rằng, những người thất nghiệp, có những trải nghiệm tiêu cực trong cuộc sống, hoặc đã từng sử dụng thuốc chống trầm cảm nhưng không đáp ứng, thường có khả năng đáp ứng trị liệu CBT cao hơn so với việc sử dụng thuốc [15]. Năm 2002, Embling đã thực hiện một nghiên cứu tại trung tâm điều trị và đánh giá tâm thần cấp tính tại cộng đồng. Khi đến trung tâm, khách thể sẽ được phỏng van bởi các bác sĩ LS có kinh nghiệm và được chan đoán theo bảng Hệ thống phân loại bệnh Quốc tế - International Statistical Classiffication of Diseases (ICD- 10). Nhóm đối tượng nghiên cứu là những BN mắc RLTC.
Những người tham gia nghiên cứu được điều trị bằng liệu pháp nhận thức - hành vi trong 12 buổi, mỗi buổi kéo dai từ 60 đến 90 phút. Các nhóm được chia thành bốn nhóm nhỏ dé tạo điều kiện cho việc tham gia và tương tác hiệu quả. Các bác sĩ sử dụng các kỹ thuật tri liệu như lập kế hoạch hoạt động, đánh giá hành vi, xác định và kiểm soát suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực, tái cau trúc bằng cách sử dụng bản theo dõi suy nghĩ dé giúp người tham gia đạt được mục tiêu của họ. Nghiên cứu này sử dụng thang đo trầm cảm Beck II để đánh giá mức độ của nhóm khách thể.
Điểm thang đo trầm cảm giảm sau 12 buổi trị liệu, cho thấy việc trị liệu có hiệu quả trong việc giảm tram cảm. Các yếu tố về sự tức giận, buồn bã, lo âu đã tăng dan từ buổi thứ 3 đến budi thứ 9, và tăng tối đa tại buổi thứ 6. Thử nghiệm Bivariate về sự khác biệt điểm trung bình của thang đo Beck giữa nhóm đối chứng và nhóm trị liệu cho thấy sự khác biệt đáng kể (p<0,01). Tại buổi thứ 12, điểm thang do Beck của nhóm điều trị thấp hon đáng kể (p=0,002) so với nhóm đối chứng.
Nghiên cứu cho thấy mức độ tram cảm và biểu hiện lo âu, tức giận có mối quan hệ nghịch biến trong 12 buổi trị liệu [16]. Ở Việt Nam, tác giả Trần Như Minh Hằng nghiên cứu về “Hiệu quả của liệu pháp CBT và các yếu tố liên quan trong điều trị bệnh tram cảm”. Theo tác giả, đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm LS ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy hiệu quả của điều trị CBT trong giai đoạn cấp cũng như trong phòng ngừa tái phát trầm cảm có hiệu quả. Trị liệu CBT là một phương pháp trị liệu tâm lý hiệu quả, có thể so sánh hoặc vượt trội hơn các phương pháp khác như liệu pháp lý động, liệu pháp hành vi, liệu pháp tương tác cá nhân [2].
Từ năm 2009 đến năm 2013, Tổ chức quỹ cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam đã hỗ trợ triển khai chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại 5 xã/phường trong thành phố Đà Nang va Khánh Hòa. Trong chương trình này, thuốc chống tram cảm kết hợp với liệu pháp kích hoạt hành vi đã được áp dụng dé điều trị cho người mắc trầm cảm. Trong nghiên cứu này, 60 người mắc trầm cảm được chia thành hai nhóm, mỗi nhóm 30 người: nhóm can thiệp được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm kết hợp với liệu pháp kích hoạt hành vi, và nhóm đối chứng chỉ được điều trị bằng thuốc chống tram cảm. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, nhóm can thiệp có khả năng phục hồi, tiến triển tốt hơn nhóm chỉ dùng thuốc [16].
Như vậy, các băng chứng từ các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho chúng ta thấy, liệu pháp CBT được chứng minh có thể giúp cải thiện đáng ké các triệu chứng của trầm cảm và lo âu. Beck là người tiên phong trong việc phát triển liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) cho tram cảm trong những năm 1950 và được chính thức hóa thành phương pháp điều trị vào cuối những năm 1970. Mô hình nhận thức về tram cảm cho rằng những người tram cảm sẽ tập trung suy nghĩ tiêu cực và méo mó về bản thân, thế giới và tương lai có thể góp phần làm gia tăng trầm cảm. Liệu pháp này áp dụng một phương pháp giáo dục, dựa trên nguyên tắc rằng những suy nghĩ tiêu cực có thê góp phần gây ra trầm cảm, và bằng cách thay đổi những suy nghĩ đó, người ta có thé cải thiện tâm trang của mình.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng lo âu và trầm cảm thường đi kèm với nhau, và điều trị cả hai rối loan cùng một lúc có thé hiệu quả hơn so với việc chỉ điều trị một rối loạn. Một số nghiên cứu về trị liệu tram cam bằng liệu pháp tâm lý Tại Việt Nam, một nghiên cứu của Giang Ngọc Thụy Vy và Trần Thành Nam (2017) cho thấy, chỉ có khoảng 16% BN RLTC có thể nói chính xác tên bệnh của mình. Các triệu chứng phổ biến của RLTC bao gồm van đề về giấc ngủ, giảm chú ý và các vấn đề thực thể khác. BN tin rằng trầm cảm có thể do các yếu tố tâm lý, sinh học và xã hội gây ra.
Hầu hết BN muốn được giúp đỡ (80,7%), trong đó phố biến nhất là tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ tâm thần và thuốc (56,9%), tiếp theo là gia đình hoặc tự giúp mình (44%). Nghiên cứu cũng thể hiện rõ kiến thức của BN tram cảm về triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị có mối liên hệ tích cực với mức độ hoạt động chức năng của BN và nguồn thông tin mà BN được tiếp cận trước đó. Mức độ hoạt động chức năng của BN có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng nhận diện triệu chứng, nguyên nhân và cách can thiệp điều trị trầm cảm [9]. Dé nghiên cứu các phương pháp điều trị trầm cảm - lo âu, nhóm tác giả Kaloyan Kamenov và cộng sự (2017) đã tiến hành một siêu phân tích dựa trên 237 bài báo, gồm 71 904 người tham gia.
Qua đó, nhận thấy có 66 phương pháp can thiệp được xác định, chúng được chia thành 3 nhóm chính: tri liệu tâm lý (N=22), trị liệu dược lý (N=20), các phương pháp trị liệu khác (N=24). Trong nhóm trị liệu tâm lý, phương pháp can thiệp phổ biến nhất là CBT. Trong nhóm trị liệu được lý, Fluoxetine và nhóm SSRI là thuốc chống tram cảm phổ biến nhất [18]. Trong cùng nghiên cứu trên của Kaloyan Kamenov và cộng sự (2017), khi phỏng vấn các bác sĩ LS và người gặp vấn đề tâm lý, cả hai nhóm người này đều cho rằng trị liệu tâm lý và trị liệu dược lý cải thiện ở các lĩnh vực khác nhau.