CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUAN VE SUY NGHĨ TỰ DONG TIỂU CỰC CUA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TRE TUOI 1. Lịch sử nghiên cứu về suy nghĩ tự động tiêu cực 1. Lịch sử nghiên cứu trên thé giới về suy nghĩ tự động tiêu cực Suy nghĩ là hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của cá nhân và toàn xã hội. Cách con người suy nghĩ sẽ quyết định cách con người cảm nhận và phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống.
Não bộ vận hành theo hai hệ thống: - Hệ thống 1 với cơ chế suy nghĩ nhanh, tự động, cảm tinh, rap khuôn, không có ý thức kiểm soát; - Hệ thống 2 với cơ chế suy nghĩ chậm, doi hỏi nỗ lực, ding logic, có tính toán và có ý thức. Hệ thống | được não vận hành thường xuyên, trong khi đó hệ thống 2 lại ít khi được sử dụng đến. Hệ thông 2 được kích hoạt khi một sự kiện bị phát hiện và đe dọa đến hình mẫu mà Hệ thống 1 đã duy trì. Như vậy có thé thay phan lớn thời gian con người sử dụng Hệ thống 1- Suy nghĩ tự động trong quá trình nhận thức van đẻ.
Suy nghĩ tự động cho phép con người lặp đi lặp lại những suy nghĩ giong nhau ở những tinh huống quen thuộc cho đến khi chúng trở thành phản ứng mặc định khi đôi mặt với tình huéng. Suy nghĩ tự động vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực. Xét về khía cạnh suy nghĩ tự động tiêu cực tông quan các nghiên cứu trên thé giới được chia thành các nhóm chính. Một số nghiên cứu độc lập về suy nghĩ tự động tiêu cực Khái niệm suy nghĩ tự động tiêu cực lần đầu tiên được nhắc đến trong nghiên cứu của A.
Beck vào năm 1976 có tên “Cognitive therapy and emotional disorders” (Tam dịch: Liệu pháp nhận thức va rồi loạn cảm xúc). Sau nhiều năm thực hành theo trường phái Phân tâm học. Beck nhận ra một sự thật rằng nhận thức của thân chủ có sự tác động to lớn đến cảm xúc và hành vi của họ. Khi tiễn hành kiểm tra các thân chủ tram cảm và lo âu theo kĩ thuật liên tưởng tự do trong nhiều năm, ông phát 6 hiện ở họ có những dong suy nghĩ mà ho cũng không thé nào nhận biết và gọi tên được.
Trừ thân chủ đầu tiên thì tất cả những người còn lại không có nhận thức hoàn toàn vẻ những suy nghĩ này cho đến khi họ bắt dau tập trung vào chúng. Thông thường những suy nghĩ này khác với ý tưởng được thân chủ báo cáo ở chỗ nó xuất hiện tự động và cực kì nhanh chóng, ông gọi đó là "suy nghĩ tự động”, những suy nghĩ nay cung cấp nguồn tài nguyên đẻ giải thích cho những trạng thái cảm xúc và những xáo trộn cảm xúc. Nghiên cứu vào năm 1980 bởi Steven D. Hollon va Phillip C.
Kendall với đề tài “Cognitive Self-Statements in Depression: Development of an Automatic Thoughts Questionnaire” (Tạm dịch: “7 nhận thức về bản thân trong bệnh tram cam; Phát triển nghiên cứu suy nghĩ tự động qua bang câu hỏi ”) da phát trién bang câu hỏi gôm 30 mục khai thác 4 khía cạnh của những suy nghĩ tự động: (I). Sự không điều chỉnh cá nhân và mong muốn thay đổi (personal maladjustment and đesire for change - PMDC), (II). Quan niệm tiêu cực vé ban thân và kỳ vọng tiêu cực (negative self- concepts and negative expectations - NSNE), (IH.) Lòng tự trọng thấp (low self- esteem - LSE) va (IV). Su bat luc (Helplessness).
Cac muc trong Yếu tổ II đặc biệt phù hợp với hai trong ba thành phan của bộ ba nhận thức (Beck, 1963): quan điểm tiêu cực về bản thân va quan điểm tiêu cực vẻ tương lai. Đây là nghiên cứu noi bật, mang tính chất độc lập khi nghiên cứu về suy nghĩ tự động tiêu cực. Nghiên cứu đã cung cap bảng hỏi với độ tin cậy cao để có thể kế thừa vào các dé tài nghiên cứu có liên quan trong tương lai. Tác giả Paul Bennet trong quyền sách “Abnormal and clinical psychology” đã đẻ cập những suy nghĩ có ý thức của con người bị méo mó bởi các sơ đồ trằm cảm tiềm ân.
Đó là những niềm tin vô thức vẻ bản thân và thể giới, chúng tác động đến suy nghĩ ý thức và được hình thành trong suốt tuôi thơ mỗi người. Tuy nhiên, đến tuôi trưởng thành, khi con người đối mặt với những tình huống gây stress, đặc biệt là những tình huỗng gợi lại những ki niệm không vui trong quá khứ (li dị, chia ly, bị bố mẹ bỏ rơi.) thì những so đồ tiêu cực tiềm ấn sẽ được hoạt hóa, tác động đến nhận thức bẻ mặt và dẫn đến trầm cảm. Nhìn chung, các nghiên cứu độc lập về SNTDTC trên thé giới chưa pho biến, tập trung phần lớn trong lí thuyết nền tang của Beck và được phát triển về sau bởi Hollon, Kendall và Paul Bennet. Trong đó, Hollon và Kendall cung cấp thành tựu nghiên cứu quan trọng ở dạng bảng câu hỏi để nghiên cứu về suy nghĩ tự động tiêu cực.
Đây cũng là bang hoi mà đề tài sẽ sử dụng trong nghiên cứu thực trạng suy nghĩ tự động tiêu cực của người trưởng thành trẻ tuổi tại TPHCM. Một số nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa suy nghĩ tự động tiêu cực với sức khỏe tâm than Năm 1989 nghiên cứu “The role of automatic negative thoughts in the development of dysphoric mood: An analogue experiment” (Tam địch: Vai tro của những suy nghĩ tự dong tiêu cực trong sự phat triển của tâm trạng khó chịu: Mot thử nghiệm tương tự). Các kết qua nghiên cứu thu được ủng hộ quan điểm rằng tần suất suy nghĩ tự động tiêu cực cao về bản thân và tương lai, cho thấy khả năng dễ bị trầm cảm tại thời điểm thử nghiệm. Như vậy, nghiên cứu đã chỉ ra rang suy nghĩ tự động tiêu cực về ban thân và tương lai là tác nhân dé dan đến tram cảm.
Ngược lại khi tiến hành nghiên cứu trên mẫu trằm cảm, nghiên cứu “How specific are negative automatic thoughts to a depressed population? An exploratory study” (Tam dich: Tinh khác biệt của suy nghĩ tự động tiêu cực phổ biến ở bệnh tram cam- Một nghiên cứu khám pha). Kết quả ở mục Bo ba nhận thức và tình huong nội bộ, tình huông liên cá nhân cho thấy tỷ lệ những suy nghĩ tự động tiêu cực liên quan đến ban thân, thé giới và tương lai phân phối không bang nhau. Cụ thé chỉ có 3% suy nghĩ tự động tiêu cực liên quan đến yếu tô ‘Tuong lai’, so với 38,6% và 35,6% tương ứng với các yêu tố 'thé giới' và "ban thin’. Nghiên cứu cho thấy suy nghĩ tự động tiêu cực vẻ thể giới và bản thân là những suy nghĩ xuất hiện nhiều nhất ở nhóm mẫu nghiên cứu tram cam.
Năm 1993 nghiên cứu của Moilanen với dé tài “Depressive information processing among nonclinic, nonreferred college students” (Tam dịch: Xử lí thông tin trầm cam giữa sinh viên không không thuộc chuyên ngành va mẫu ngdu nhiên). Kết quả nghiên cứu cho thấy bằng chứng về quá trình xử lí thông tin cá nhân tiêu cực của sinh viên có môi tương quan thuận với tình trạng trầm cảm hiện tại chứ không phải là thái độ rồi loạn chức năng và niềm tin của sinh viên. L, 1993) Nghiên cứu vào năm 1996 của Aydin, G với dé tai “The relationship between negative automatic thoughts and illness” (Tam dich: Moi quan hệ giữa suy nghĩ tự động tiêu cực và bệnh tật). Nghiên cứu tiền hành với 356 mẫu là sinh viên đại học ở các khoa khác nhau tại Thô Nhĩ Kì.
Kết quả cho thấy có mối quan hệ thuận giữa suy nghĩ tự động tiêu cực va các triệu chứng của bệnh lý. Nghiên cứu đã củng cô thêm về giả thuyết rằng các triệu chứng của tram cảm có thé được biểu hiện qua các triệu chứng của cơ thé, tuy nhiên nghiên cứu không chỉ ra được mối quan hệ nhân quả giữa triệu chứng cơ thé va tram cảm. nghiên cứu đồng ý với các nghiên cứu trước đó rằng suy nghĩ tự động tiêu cực có thé khiến một người trở nên dé mắc các bệnh vẻ thé lý hơn. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng cho thấy những suy nghĩ tự động tiêu cực diễn ra thường xuyên ở nữ hơn nam.
Tuy nhiên nghiên cứu cũng gặp những hạn chế khi chưa tiễn hành nghiên cứu vẻ các yếu t6 có thể gây nên tram cảm và bệnh thé lí có thể kể đến là yếu tổ cảm xúc. yếu tổ văn hóa cá nhân, thói quen khong lành mạnh. Trong một thực nghiệm do Miranda va Gros báo cao vào năm 1997, nhóm tác gia đã tìm hiểu được biểu hiện hoạt hóa sơ đồ nhận thức tiem an vào thời điểm khí sắc giảm. Hai nhà khoa học nghiên cứu những phản ứng khác nhau của người có hoặc không có tiên sử trầm cảm bang cách yêu câu họ tự xếp mình vào một chuỗi tinh từ mô tả bản thân trước hoặc sau khí nghe một bản nhạc buôn.
Các tác giả nhận thấy không có sự khác biệt nào về tự đánh giá của 2 nhóm trước khi nghe nhạc. Tuy nhiên 9 sau khi nghe nhạc, những người có tiền sử tram cảm xác định nhiều tính từ âm tính hơn. Các tác giả cũng cho rằng đây chính là bằng chứng cho thấy sơ đồ nhận thức tiêu cực đã được hoạt hóa bởi trạng thái khí sắc giảm. So dé nhận thức hay còn gọi là hệ thông những niềm tin vô thức về ban thân chúng ta và thé giới, sơ do này có mỗi quan hệ chặt chẽ với cảm xúc, hành vi và sinh lí.
Như vậy cách ching ta suy nghĩ tác động toi việc chúng ta làm gì và cam thay thể nào. Giống như Beck, nhóm nghiên cứu đã cho thay sơ dé nhận thức tiêu cực tiềm ẩn sẽ được kích hoạt khi có tình hướng kích thích (nghe nhạc buồn), từ đó làm xuất hiện những suy nghĩ tiêu cực về bản thân và số lượng suy nghĩ tiêu cực này được cho là nhiều hơn ở những người có tiền sử tram cam. Nhóm tác giá gồm Boury, M và cộng sự đã tiền hành nghiên cứu vào năm 2001 với dé tài “Integrating psychodrama cognitive therapy: An exploratory study”. Nghiên cứu tiễn hành trên nhóm khách thê gồm 40 người thực hiện Thang đo trầm cảm Beck (Beck Depression Inventory (BDI-II)).
Điểm số BDI-II cho thay sự tương quan đáng kẻ với số lượng suy nghĩ tự động, niềm tin cốt lõi. Phát hiện đó cho thay phù hợp với kết luận của Beck vẻ tính đặc trưng của suy nghĩ tiêu cực cho chứng trầm cảm (DA Clark, AT Beck, & BA Alford, 1999).