Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 1. Những khái niệm có liên quan đến đề tài luận văn 1. Khái niệm văn hoá Văn hoá là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, tuỳ từng góc độ tiếp cận, hoặc mục đích nghiên cứu của mỗi học giả. Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá” thông qua tại Hội nghị quốc tế do Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) tổ chức tại Mehico năm 1982, văn hoá được định nghĩa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn.
Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ta để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [34. Nói một cách ngắn gọn hơn: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ, nó đã 11 cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc từng khẳng định bản sắc riêng của mình” [17,tr. Hiện nay Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đang nhìn nhận văn hoá với một ý nghĩa rộng rãi hơn, coi văn hoá như một phức thể - tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm…khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội.Mayor, Nguyên Tổng giám đốc UNESCO đưa ra một khái niệm về văn hoá vừa mang tính khái quát, vừa mang tính đặc thù : “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [42,tr. Từ điển Triết học đưa ra định nghĩa: “Văn hoá gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội – lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội…Văn hoá là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội” [41,tr.
Ở Việt Nam, cũng đã có một số nhà nghiên cứu đưa ra các cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hoá, có thể kể đến như: Từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên, giải thích từ “Văn hoá” với 5 góc độ: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử. Nói một cách tổng quát là những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống và tinh thần. Nói khái quát về tri thức, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội là biểu hiện cao về văn minh. Trong trình độ chuyên môn khái niệm văn hoá dùng để chỉ nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử được xác định trên cơ sở một tổng thể di vật lưu lại được có những đặc điểm giống nhau [28,tr.
12 Trong Xã hội học văn hoá, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: “Văn hoá – vô sở bất tại: Văn hoá – không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hoá; nơi nào có con người nơi đó có văn hoá” [16, tr. Năm 1942, tại “Mục đọc sách” viết xen trong bản thảo “Nhật ký trong tù”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa hết sức xác đáng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [26, tr.
Với định nghĩa này, Hồ Chí Minh bằng cách tiếp cận biện chứng đã nắm bắt trạng thái vận động và cả trạng thái tĩnh của văn hoá. Như vậy, Hồ Chí Minh đã thấy văn hoá là cơ chế tổng hợp để hình thành và phát triển con người xã hội. Và chính Người với tầm nhìn xa đã thực sự coi trọng và khẳng định vai trò to lớn của văn hoá đối với sự nghiệp cách mạng, sự phát triển của con người và xã hội. Những năm gần đây, nghiên cứu văn hoá thực sự trở thành một môn khoa học tại Việt Nam.
Một số học giả tập trung nghiên cứu về văn hoá tiếp tục đưa ra các quan niệm của mình về văn hoá. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hoá, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [39,tr. Định nghĩa này đã nêu bật 13 bốn đặc trưng quan trọng của văn hoá là: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Có thể thấy, các cách hiểu có thể khác nhau từ những phương diện được hạn chế như những tiền đề được lý giải các vấn đề đặt ra, song trong mọi trường hợp khái niệm văn hoá và con người luôn luôn gắn kết với nhau.
Văn hoá là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hoá lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hoá được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hoá là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra và được con người thừa nhận, bao gồm trong đó là Chân – Thiện – Mỹ.
Tóm lại, văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hoá là hoạt động nhằm phát huy những năng lực bản chất của con người, vươn tới cái chân, cái thiện và cái mỹ, nhằm tạo ra những giá trị, những chuẩn mực xã hội. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân và hoạt động có hướng đích nhằm đạt tới một giá trị nào đó trong xã hội. Khái niệm về công sở Khái niệm “công sở” thường được sử dụng khá phổ biến trong những năm gần đây.
Từ diển Pratique du Francais năm 1987 đưa ra khái niệm: “ Công sở (service public) là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện và người được Nhà nước bổ nhiệm và bổ trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình”. Từ điển Petit Larousee năm 1992 quan niệm: “Công sở (service public) là tổ chức (cơ cấu) có chức năng đảm nhiệm lợi ích công”; hay “công sở là một pháp nhân 14 công quyền có quyền lợi về tài chính, nói chung là chịu trách nhiệm đảm bảo một dịch vụ công”; và “công sở là phương thức quản lý các dịch vụ công: Đó là một dịch vụ công được pháp nhân hoá”. Theo Gustave Peiser – nhà luật học Cộng hoà Pháp thì thuật ngữ công sở và công sở tự quản là một khái niệm dùng chỉ các pháp nhân công quyền: “Công sở là pháp nhân công quyền, chịu trách nhiệm tiến hành một trong các hoạt động của các đơn vị hành chính địa phương, thay mặt cho Nhà nước, cho tỉnh, cho công xã nhưng chịu sự kiểm tra các cấp đó”[19,tr. Với vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và có cơ cấu tổ chức do pháp luật quy định, được sử dụng công quyền để tổ chức công việc Nhà nước hoặc dịch vụ công vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng vì vậy: Công sở là một thiết chế của xã hội, “là nơi cán bộ, công chức, viên chức làm việc, để thực hiện các nghĩa vụ và quyền được nhà nước giao phó.
Do vậy, công sở luôn có những quy chế, quy định riêng để mọi người tuân thủ, thực hiện, tạo nên sự thống nhất trong công việc, trong ý chí và hành động. Nói đến công sở là nói đến văn minh công sở, là nói đến nếp sống, đến ý thức và bản lĩnh sống của người cán bộ, công chức, viên chức. Công sở là nơi tập thể cán bộ, công chức, viên chức cùng người lao động suy nghĩ để hoàn thành chức năng, công việc được giao. Công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước.
Công sở là một tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, nơi phối hợp hoạt động thực hiện một nhiệm vụ được nhà nước giao. Là nơi tiếp nhận yêu cầu, đề nghị, khiếu nại của công dân. Do đó, công sở là một bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước”[36]. Khái niệm về văn hoá công sở Công sở là một tổ chức, chính vì vậy khái niệm văn hóa công sở cũng bắt nguồn từ khái niệm văn hóa tổ chức.