mở đầu và kết thúc không rõ ràng, không có đối tượng riêng nên phải đi kèm các hiện tượng tâm lý khác, đóng vai trò làm nền cho các hiện tượng tâm lý đó như: Chú ý đi kém với quá trình nhận thức 6 (chú ý nghe giảng), phân vân đi kèm với tư duy, tâm trạng đi với cảm xúc. Các thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành và khó mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách, là bốn nhóm thuộc tính tâm lý cá nhân như: Xu hướng, tính cách, khí chất và năng lực. Căn cứ vào sự tham gia của ý thức, hiện tượng tâm lý được phân thành hiện tượng tâm lý có ý thức và hiện tượng tâm lý không có ý thức. Hiện tượng tâm lý có ý thức là hiện tượng tâm lý được chủ thể nhận biết đang diễn ra, có sự bày tỏ thái độ và có thể điều khiển, điều chỉnh được chúng.
Hiện tượng tâm lý chưa có ý thức là những hiện tượng tâm lý không được chủ thể nhận biết đang diễn ra. Vì vậy, không thể bày tỏ thái độ hay điều khiển, điều chỉnh được chúng. Một số quan điểm tâm lý học 1. Tâm lý học hành vi Tâm lý học hành vi do nhà tâm lý học người Mỹ, J.Watson sáng lập năm 1913.
Ông cho rằng các phản ứng của con người đối với những kích thích từ môi trường chính là cái tạo nên hành vi. Nói cách khác, hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó theo một công thức nhất định có tên là S-R Stimulus – Reaction Kích thích – Phản ứng => Hành vi Với công thức này, J.Watson cho rằng có thể điều khiển hành vi theo phương pháp thử - sai, ngoài ra những hành vi còn có thể được học tập một cách có hệ thống và có thể được quan sát rõ ràng từ bên ngoài mà không cần đi sâu vào diễn biến nội tâm. Sau đó, nhà tâm lý học B.Skinner phát triển lý thuyết này, khẳng định tất cả hành vi của con người đều do môi trường định hình và đề xuất rằng, hệ quả tích cực của hành động trước đó sẽ khiến cá nhân thực hiện nhiều hành động đó hơn trong khi hệ quả tiêu cực sẽ khiến cá nhân hạn chế các hành động đã thực hiện trước đó. Tâm lý học hành vi mang tới nhiều lợi ích cho cuộc sống hiện đại.
Thông qua nghiên cứu hành vi, có thể đánh giá được tâm lý của người khác từ đó đưa ra những hành động nhanh chóng và hợp lý hơn. Việc tự nhận thức bản thân thông qua việc phân tích tâm lý từ các hành vi của chính mình cũng giúp con người quản lý được bản thân 7 tốt hơn, có được những hành động đúng đắn cho bản thân từ đó tránh được một số vấn đề có thể dẫn đến những khó khăn tâm lý có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần. Phân tâm học (Psychoanalysis) Phân tâm học tìm hiểu những mối quan hệ vô thức của con người qua tiến trình liên tưởng, được khởi thảo bởi bác sĩ người Áo, Sigmund Freud. Ý tưởng chủ đạo của phân tâm học là niềm tin cho rằng, tất cả mọi người đều sở hữu những suy nghĩ, cảm xúc, ham muốn và ký ức ẩn sau trong vô thức.
Bằng cách chuyển những nội dung vô thức sang vùng ý thức, con người có thể trải nghiệm sự “thanh tẩy” tâm trí và hiểu sâu sắc hơn về trạng thái tâm lý hiện tại của bản thân, qua đó, con người có thể tìm thấy sự giải thoát khỏi những sự khó chịu, vướng bận về mặt tâm lý. Freud, tâm lý con người được cấu tạo bởi ba yếu tố: Vô thức, là cái mang tính sinh lý tự nhiên, mang tính bản năng, di truyền, bẩm sinh từ đời nọ sang đời kia và cũng có nguồn gốc từ tác động bên ngoài xã hội; Tiền ý thức, là hiện tượng tinh thần không còn phụ thuộc vào ý thức nữa nhưng cũng chưa hoàn toàn phụ thuộc vô thức; Ý thức, là lớp ở trên, là những suy nghĩ và nhận thức mà con người nhận biết rất minh bạch. Tương ứng với ba yếu tố này là ba thành tố cấu trúc của nhân cách, bao gồm: Bản năng nguyên thủy/tự ngã (Id), là cái con người đã có ngay từ lúc sinh ra, nó chi phối toàn bộ đời sống con người; Bản ngã/cái tôi (Ego), không có từ lúc sinh ra, bản ngã giúp con người tự chủ trước các tác động bên ngoài, bản ngã phát triển qua sự tương tác bên ngoài đồng thời sẽ tìm lấy sức mạnh trong siêu ngã; Siêu ngã (Supper ego), thể hiện lương tri, là các giá trị đạo đức về đúng – sai, mà chủ yếu được thấm dần vào mỗi cá nhân từ cha mẹ, thầy cô, xã hội. Bản chất của siêu ngã là lương tâm và cái tôi lý tưởng, được hình thành thông qua quá trình thưởng và phạt.
Siêu ngã khiến con người cảm thấy tội lỗi khi làm điều sai trái và khiến con người hoàn thiện hơn. Siêu ngã tồn tại ở cả ba cấp độ tâm lý nhưng chủ yếu là tồn tại ở vô thức.Freud xây dựng mô hình lý thuyết tâm lý người gọi là mô hình tảng băng: Phần trên của tảng băng là ý thức, phần dưới tảng băng theo thứ tự tự tiền ý thức, siêu ngã, cái tôi/bản ngã, vô thức, bản năng nguyên thủy/tự ngã. Và cũng cần thấy 8 rằng, cái tôi (ego) không phải là dạng cố định nhưng có thể có mặt ở cả ba dạng thức (vô thức, tiền ý thức và ý thức). Hình 4: Mô hình ẩn dụ tảng băng S.Freud chỉ ra mối quan hệ của ba tầng của các yếu tố trên như sau: Tầng vô thức biểu hiện vai trò của di truyền, tầng tiền ý thức là cái con người đã và đang trải nghiệm, mang tính ngẫu nhiên tức thời, tầng ý thức biểu hiện vai trò áp chế của người khác, của xã hội.
Ba khối này tạo nên ba kiểu người: Khối vô thức tạo nên con người trung tính mà nguyên tắc sống là chỉ đòi hỏi những mong muốn của mình được thỏa mãn bằng mọi cách, trong đó, thỏa mãn các đam mê tính dục giữ vị trí hàng đầu; Khối tiền ý thức tạo nên con người thực tại, hoạt động tuân theo nguyên tắc hiện thực; Khối ý thức tạo nên con người xã hội hoạt động tuân theo nguyên tắc kiểm duyệt con người trung tính và con người thực tại. Học thuyết này được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ví dụ như lĩnh vực marketing. Dựa trên những lý thuyết về xung động vô thức (id) trong hơn hai thập kỷ qua, yếu tố hấp dẫn tính dục (Sex appeal) được các nhãn hàng sử dụng như một chiến lược marketing hiệu quả khi các hình ảnh gợi cảm xuất hiện liên tục trên các quảng cáo ở các kênh truyền thông với nhiều cách thể hiện khác nhau tùy theo thị trường với những đặc thù về văn hóa, thẩm mỹ. Một chiến lược khác là khơi dậy cảm xúc của công chúng bằng bản ngã (ego) thông qua các hình ảnh hoặc những câu khẩu hiệu (slogan) khơi dậy cảm xúc tích cực nơi người tiêu dùng.
Ví dụ, Coca-Cola 9 với những chiến dịch quảng cáo không chỉ để tăng nhận diện thương hiệu mà con thực sự truyền đi những cảm xúc tích cực cho người tiêu dùng như: gắn hình ảnh sản phẩm với sự sum vầy ngày Tết khi quảng cáo tại Việt Nam cho dịp tết 2023, nhấn mạnh màu đỏ của thương hiệu với biểu tượng may mắn, cát tường ngày năm mới ở một số thị trường Châu Á,. Tâm lý học nhận thức (Cognitive psychology) Tâm lý học nhận thức là môn khoa học nghiên cứu về quá trình nhận thức và các cấu trúc của nhận thức để tìm ra bản chất quá trình nhận thức của con người. Tâm lý học nhận thức cho phép con người tìm hiểu về cơ chế mà cơ thể và trí não làm việc cùng nhau, giúp đưa ra quyết định đúng đắn hơn, tránh các tình huống căng thẳng, giúp con người quản lý thời gian, thiết lập được các mục tiêu sống và sống hiệu quả. Trong y khoa, những thành tựu của tâm lý học nhận thức giúp đội ngũ y tế tiếp cận và điều trị bệnh tâm thần, chấn thương sọ não và bệnh thoái hóa não cũng như có thể xác định các cách thức để đo lường khả năng trí tuệ của con người, phát triển các chiến lược mới để chống lại các vấn đề về bộ nhớ và giải mã các hoạt động của bộ não con người.
Các nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học nhận thức cũng giúp phát triển các phương pháp điều trị mới để điều trị trầm cảm, lo âu, hoặc các rối loạn tâm lý khác. Trong marketing, hành vi người tiêu dùng cũng không nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của tâm lý học nhận thức. Việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến các quyết định của khách hàng ảnh hưởng đến thương hiệu, chiến lược và doanh số bán hàng vì nó quyết định đến việc phát triển sản phẩm, chiến dịch quảng cáo,. Trong doanh nghiệp, để thiết lập văn hóa công sở cũng như xây dựng môi trường làm việc thúc đẩy sự cầu tiến của nhân viên, doanh nghiệp cần thấu hiểu các vấn đề tâm lý nơi công sở để có những hoạt động chăm sóc tinh thần nội bộ, nâng cao sức khỏe tinh thần, xây dựng các chính sách phúc lợi phù hợp,.
Tâm lý học nhân văn (Humanism) Tâm lý học nhân văn phát triển như một phản ứng với phân tâm học và chủ nghĩa hành vi. Trong khi các trường phái tư tưởng ban đầu chủ yếu tập trung vào hành vi bất thường của con người, tâm lý học nhân văn khác biệt ở chỗ nhấn mạnh vào việc giúp con người phát huy hết tiềm năng và tối đa hóa cảm nhận hạnh phúc của họ. 10 Tâm lý học nhân văn nhấn mạnh vào việc nhìn vào tổng thể các khái niệm như ý chí tự do, tự tin vào bản thân, tháp nhu cầu Maslow, trải nghiệm đỉnh cao, sự tự hiện thực hóa, khái niệm bản thân và sự quan tâm tích cực vô điều kiện. Tâm lý học nhân văn có thể giúp mọi người theo đuổi sự hoàn thiện và hiện thực hóa của chính họ bao gồm: Khám phá thế mạnh của mình, xem xét niềm tin và giá trị riêng của cá nhân, theo đuổi trải nghiệm mang lại niềm vui và phát triển kỹ năng, học cách chấp nhận bản thân và những người khác, tập trung tận hưởng trải nghiệm hơn là chỉ đạt được mục tiêu, tiếp tuc học những điều mới, theo đuổi đam mê, duy trì sự lạc quan.