Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của công tác đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên trong đào tạo nghề Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng về công tác đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên tại Trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội Chương 4: Định hướng và một số giải pháp trong công tác đào tạo kỹ năng mềm hiệu quả cho sinh viên tại Trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội. 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về công tác đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên 1. Tổng quan các nghiên cứu về đào tạo kỹ năng mềm trên thế giới và Việt Nam Kỹ năng mềm đƣợc quan tâm trên thế giới từ những năm 1980 đến năm 2000 và mãi đến sau này.
Trong suốt quá trình lao động, các chuyên gia nhận ra rằng thực tế các kỹ năng làm việc của ngƣời lao động vẫn chƣa đủ để có thể đáp ứng thực tiễn. Điều mà ngƣời lao động thƣờng thiếu đó chính là sự áp dụng mềm mại và sáng tạo những gì đã học cũng nhƣ khả năng thấu hiểu, thiết lập quan hệ với đồng nghiệp và quản lý. Vì thế, thuật ngữ kỹ năng mềm xuất hiện và vấn đề nghiên cứu về kỹ năng mềm trong nghề nghiệp cũng nhƣ phát triển kỹ năng mềm cho ngƣời lao động ở những ngành nghề cụ thể đƣợc quan tâm. Hiện nay, các nƣớc phát triển trên thế giới hầu hết đều có các tổ chức chịu trách nhiệm về việc nghiên cứu để phát triển các kỹ năng mềm cho ngƣời lao động.
Ví dụ nhƣ: Bộ lao động Mỹ thành lập Uỷ ban thƣ ký về rèn luyện các kỹ năng cần thiết - The Secretary’s Comission on Achieving Necessary Skills); Tại Canada, Bộ phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng Canada - Human Resources and Skills Development Canada phụ trách về vấn đề phát triển kỹ năng cho ngƣời lao động. Hai thập kỷ gần đây, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên và ngƣời lao động, tập trung vào 3 hƣớng chính: những kỹ năng mềm cốt lõi; khung kỹ năng mềm và cách thức giáo dục kỹ năng mềm. Hƣớng thứ nhất, những kỹ năng mềm căn bản cần phải có đối với sinh viên và người lao động, có thể kể đến các công trình sau: Từ năm 1997, bài viết “Successful Consulting Engineering: a Lifetime of Learning” (Patricla A.Hecker) trên tạp chí Giáo dục kỹ thuật quốc tế, số 11 đã 4 z nghiên cứu và làm sáng tỏ về sự cần thiết và tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với kỹ sƣ cố vấn; vai trò của công tác giảng dạy, đào tạo kỹ năng mềm cho kỹ sƣ cố vấn; và giải pháp nâng cao việc đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên khối kỹ thuật. Năm 2002, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) kết hợp với Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Úc (The Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) dƣới sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (The Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng GD quốc gia Úc(The Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn Employability Skills For Future.
Công trình này chỉ ra 8 kỹ năng mềm quan trọng với ngƣời lao động, bao gồm: giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, sáng tạo và khởi xƣớng, lập kế hoạch và tổ chức công việc, tự quản, học tập suốt đời và kỹ năng công nghệ (Nguyễn Thị Hảo. Bộ Phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng của Canada (Human Resourse and Skills Development Canada – HRSDC) cũng tiến hành nghiên cứu và đƣa ra danh sách kỹ năng mềm cho tƣơng lai là: giao tiếp, giải quyết vấn đề, tƣ duy và hành động tích cực, thích ứng, làm việc với ngƣời khác, nghiên cứu khoa học.Cục Phát triển lao động Singapore (Workfore Development Agency - WDA) đã đƣa ra 10 kỹ năng mềm: viết và tính toán, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, giải quyết vấn đề và ra quyết định, sáng tạo và mạo hiểm, giao tiếp và quản lý mối quan hệ, học tập suốt đời, tƣ duy mở toàn cầu, quản lý bản thân, tổ chức công việc và an toàn lao động, vệ sinh sức khỏe (Nguyễn Thị Hảo. Ở Bồ Đào Nha, năm 2007, Artur Ferreira da Silva, José Tribolet (2007) GV trƣờng ĐH Kỹ thuật Lisbon đã trình bày tham luận Developing soft skills in engineering studies – The experience of students’personal portfolio tại hội nghị quốc tế về GD kỹ thuật. Trong bài viết, tác giả đã trình bày kinh nghiệm thực tế trong 15 năm (tập trung vào 6 học kỳ) đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên kỹ thuật thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp và các buổi thực hành trong chƣơng trình mang tên "Personal Portfolio" Hƣớng thứ hai,về vấn đề khung kỹ năng mềm, một số khung của các quốc gia sau đây đã đƣợc công bố và áp dụng thành công: 5 z Bang Michigan, Hoa Kỳ có Lifelong Soft Skills Framework: Creating a Workforce That Works (2012).
Khung này đã chỉ ra những kỹ năng mềm căn bản sinh viên cần phải có để đạt đƣợc thành công; Bộ Giáo dục Đại học Malaysia giới thiệu Framework of Soft Skills Infusion Based on Learning Contract Concept in Malaysia Higher Education nêu rõ mục đích của giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đại học (ứng dụng cụ thể ở Đại học Quốc gia Malaysia) và thảo luận về phƣơng pháp phát triển kỹ năng mềm đối với sinh viên đại học. Hƣớng thứ ba, về vấn đề cách thức giáo dục kỹ năng mềm. Có thể đơn cử một số công trình tiêu biểu nhƣ: Bài viết Teaching Soft Skills to Engineers của Susan H.Pulko và Samir Parikh đăng trên International Journal of Electrical Engineering Education. Hai tác giả đề cập đến một số phƣơng pháp giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên khối kỹ thuật nhƣ: làm bài tập nhóm, công não, mô phỏng,… Các nghiên cứu về kỹ năng mềm ở Việt Nam phải kể đến Bộ sách 4 cuốn Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh các cấp từ mầm non đến trung học phổ thông (tài liệu dùng cho giáo viên) của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010) đã nghiên cứu đặc điểm phát triển tâm lý học của học của học sinh từng cấp, từ đó đƣa ra những vấn đề chung của giá trị sống và phƣơng pháp kỹ năng sống (trong đó có kỹ năng mềm) cho học sinh.
Bài viết “Tăng cường giáo dục, rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên – yêu cầu cấp bách của đổi mới GD ĐH” của Bùi Loan Thủy [34]. Tác giả phân tích thực trạng sử dụng kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên Việt Nam, những lợi ích đối với sinh viên khi sử dụng tốt kỹ năng này. Trên cơ sở đó, bài viết đƣa ra biện pháp nâng cao hiệu quả làm việc nhóm đối với nhà trƣờng, giảng viên và bản thân sinh viên. Bài viết “Khảo sát một vài biện pháp phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên Đại học Sư phạm”của Huỳnh Văn Sơn (2013) đề cập đến việc khảo sát 3 biện pháp phát triển các kỹ năng mềm cho sinh viên Đại học Sƣ phạm: định hƣớng nghiên cứu có hệ thống về kỹ năng mềm, tổ chức khóa huấn luyện về kỹ năng mềm cho SV sƣ phạm với tên gọi “Phát 6 z triển kỹ năng mềm cho sinh viên sư phạm” và lồng ghép huấn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên đại học sƣ phạm thông qua các hoạt động ngoại khóa.
Các nghiên cứu trên đã cho thấy vấn đề trọng tâm hiện nay là sinh viên đang còn thiếu rất nhiều kỹ năng mềm vì vậy nên đƣa chƣơng trình đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên tại các trƣờng đại học, cao đẳng, đặc biệt là các kỹ năng đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tế tại các doanh nghiệp 1. Tổng quan nghiên cứu về phát triển kỹ năng mềm gắn với yêu cầu của doanh nghiệp Báo cáo phát triển của Ngân hàng Thế giới (2014) khảng định rằng việc trang bị cho ngƣời lao động những kỹ năng cần thiết sẽ là một phần quan trọng trong nỗ lực của Việt Nam để tăng tốc độ tăng trƣởng kinh tế và tiếp tục quá trình cải cách kinh tế. Dựa trên kinh nghiệm của các nƣớc láng giềng phát triển hơn nhƣ Hàn Quốc, Việt Nam cần chuẩn bị cho sự thay đổi của cầu đối với lao động, với nhu cầu sẽ dịch chuyển từ các công việc chủ yếu là thủ công và đơn giản ngày hôm nay sang các công việc phi thủ công và đòi hỏi nhiều kỹ năng hơn, sự dịch chuyển từ các công việc chủ yếu là các thao tác, nhiệm vụ thƣờng quy sang các nhiệm vụ không thƣờng quy và từ các công việc truyền thống sang các công việc hiện đại. Những công việc hiện đại đó luôn đòi hỏi kỹ năng.
Theo nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế-ILO, một yêu cầu căn bản và tiên quyết trong phát triển kỹ năng là thiết lập các mối liên hệ giữa thế giới đào tạo và thế giới việc làm. Điều này đảm bảo cho ngƣời học và ngƣời làm học đúng những kỹ năng mà thị trƣờng lao động yêu cầu (ILO, 2011). Theo chiều hƣớng gắn kết giữa đào tạo kỹ năng và yêu cầu của doanh nghiệp, một nghiên cứu thực hiện với sự tham gia của 294 sinh viên năm cuối của Đại học An Giang và 75 nhà tuyển dụng hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau trên địa bàn tỉnh An Giang chỉ ra rằng mặc dù năng lực kỹ năng mềm của sinh viên đƣợc đánh giá chủ yếu ở mức cao, song vẫn chƣa đáp ứng tốt yêu cầu của nhà tuyển dụng (Lê Thị Hồng Hạnh, 2014). 7 z Yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kỹ năng đối với sinh viên mới tốt nghiệp (Vũ Thế Dũng –Trần Thanh Tòng.
2005) đƣợc phân tích từ 300 mẫu quảng cáo từ các doanh nghiệp phía Nam cho thấy có 17 nhóm kỹ năng mà các nhà tuyển dụng đang kỳ vọng từ nhóm ứng viên ngành quản lý/ kinh tế mới tốt nghiệp đại học. Các nghiên cứu về yêu cầu năng lực kỹ năng mềm trong công việc của doanh nghiệp chỉ ra rằng vẫn tồn tại một khoảng cách giữa kết quả đào tạo tại nhà trƣờng và yêu cầu về kỹ năng tại doanh nghiệp.