Tổng quan nghiên cứu

Năm học 2002-2003 đánh dấu bước ngoặt căn bản của hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam khi chương trình và sách giáo khoa mới được triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội. Trước thời điểm này, sách giáo khoa tiếng Anh tại các trường trung học cơ sở chịu sự chi phối của phương pháp truyền thống vốn nặng về ngữ pháp lý thuyết và dịch thuật, kéo dài suốt giai đoạn từ năm 1977 đến năm 2002. Để khắc phục tình trạng người học chỉ biết về ngôn ngữ mà không thể sử dụng ngôn ngữ trong đời sống, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hợp tác cùng Liên minh Doanh nghiệp vì Giáo dục Việt Nam triển khai biên soạn, thí điểm bộ sách giáo khoa mới tại 34 trường thuộc 17 tỉnh thành từ năm 1997, sau đó mở rộng lên 149 trường trung học cơ sở tại 11 tỉnh thành phố theo Quyết định số 2434/QĐ-BGDĐT.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc đánh giá tính phù hợp của bộ giáo trình "Tiếng Anh 6" trong bối cảnh dạy và học thực tế tại các trường trung học cơ sở, nhận diện những rào cản phát sinh đối với giáo viên và học sinh khi tiếp cận phương pháp mới, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi để đưa bộ sách vào sử dụng hiệu quả. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung vào địa bàn Quận 3 và quận Tân Bình trong giai đoạn thí điểm kéo dài 6 năm từ năm học 1997-1998 đến năm học 2002-2003. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp cơ sở thực tiễn giúp tối ưu hóa 105 tiết dạy học trên lớp, nâng cao tỷ lệ tham gia giao tiếp của học sinh lên mức tối đa và định hình phương pháp sư phạm tiến bộ cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trong thời kỳ hội nhập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết dạy học ngôn ngữ giao tiếp (Communicative Language Teaching) được phát triển bởi Richards và Rodgers năm 1986, cùng quan điểm của Hymes năm 1972 về năng lực giao tiếp (communicative competence). Theo khung lý thuyết này, ngôn ngữ là một hệ thống biểu đạt ý nghĩa phục vụ tương tác xã hội, trong đó mục tiêu cốt lõi của việc học ngoại ngữ không dừng lại ở việc ghi nhớ các quy tắc ngữ pháp mà là khả năng vận dụng cấu trúc linh hoạt, chuẩn xác vào từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.

Luận văn vận dụng mô hình đánh giá giáo trình toàn diện của Cunningsworth năm 1995 và Littlejohn năm 1998. Mô hình này tiếp cận tài liệu giảng dạy trên hai phương diện cốt lõi: xuất bản (các yếu tố vật lý hữu hình như hình thức in ấn, bố cục, phụ kiện đính kèm) và thiết kế sư phạm (mục tiêu bài học, cách thức tuyển chọn, sắp xếp chuỗi hoạt động và ngữ liệu). Theo khuyến nghị của các nhà nghiên cứu, việc đánh giá được thực hiện qua hai cấp độ: khảo sát tổng thể toàn bộ giáo trình và phân tích vi mô chuyên sâu từ 10% đến 15% dung lượng tài liệu, cụ thể là cụm 3 bài học Unit 6, 7 và 8 nằm ở khu vực giữa chương trình gồm 16 đơn vị bài học. Bên cạnh đó, lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ tự nhiên, quá trình chuyển hóa từ nhập lượng (input) thành lượng tiếp nhận (intake) của Lee và VanPatten năm 1995, cùng nguyên tắc kiểm tra đánh giá theo hướng giao tiếp của Krashen và Terrell năm 1983 cũng được tích hợp để soi chiếu thực trạng dạy học 3 tiết mỗi tuần với thời lượng 45 phút mỗi tiết.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu trường hợp định tính kết hợp khảo sát định lượng mô tả nhằm thu thập bức tranh thực tế đa chiều. Về cỡ mẫu nghiên cứu, tác giả thực hiện khảo sát đối với tổng cộng 40 giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở và 130 học sinh lớp 6. Trong đó, 20 giáo viên tham gia phỏng vấn sâu trực tiếp và 20 giáo viên khác hoàn thành phiếu câu hỏi khảo sát chi tiết. Về phía người học, 40 học sinh lớp 6 tại Trường Trung học cơ sở Lê Lợi tham gia phỏng vấn bán cấu trúc và 90 học sinh tại Trường Trung học cơ sở Nguyễn Gia Thiều hoàn thành bảng câu hỏi điều tra. Ngoài ra, nghiên cứu còn phỏng vấn 3 phụ huynh học sinh nhằm thu nhận góc nhìn đa chiều từ phía gia đình.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các trường trung học cơ sở tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm Trường Lê Quí Đôn, Trường Lê Lợi (trường công lập), Trường Kiến Thiết (trường bán công lập) tại Quận 3 và Trường Nguyễn Gia Thiều tại quận Tân Bình. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện cho các nhóm học sinh có học lực từ trung bình, khá đến giỏi tại khu vực đô thị. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp định lượng là nhằm dung hòa giữa việc lượng hóa mức độ hài lòng của giáo viên, học sinh và việc đào sâu bản chất các khó khăn sư phạm phát sinh trong môi trường lớp học thực tế suốt giai đoạn từ tháng 12 năm 2001 đến tháng 4 năm 2002.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, bộ giáo trình "Tiếng Anh 6" mang lại bước đột phá toàn diện về mặt học liệu với một hệ sinh thái học tập hoàn chỉnh. Sách học sinh được in 4 màu sinh động với độ dày 204 trang (giá 11.200 đồng), đi kèm sách giáo viên 151 trang (giá 6.000 đồng), sách bài tập 143 trang (giá 5.700 đồng), băng cassette chuẩn phát âm (giá 12.000 đồng), bộ 57 tranh ảnh dạy học in màu dán bảng từ (giá 114.000 đồng) và đĩa CD-ROM đa phương tiện (giá 60.000 đồng). Cấu trúc sách gồm 16 đơn vị bài học phân chia thành 6 chủ điểm gần gũi với đời sống, phân bổ hợp lý trong 105 tiết học của năm học.

Thứ hai, kết quả điều tra cho thấy sự đồng thuận cao từ người dạy và người học đối với triết lý giao tiếp mới. Có hơn 85% giáo viên được khảo sát đánh giá cao tính trực quan, hệ thống hình ảnh phong phú và chuỗi hoạt động rèn luyện kỹ năng nghe - nói được thiết kế bài bản. Khoảng 78% học sinh bày tỏ sự hào hứng, tự tin hơn khi tham gia các hoạt động làm việc theo cặp và thảo luận nhóm so với chương trình cũ trước năm 2002.

Thứ ba, nghiên cứu nhận diện nhiều hạn chế kỹ thuật và rào cản sư phạm cần khắc phục. Sách bài tập thiết kế khoảng trống để điền câu quá ngắn khiến 100% học sinh phải sử dụng thêm vở bài tập riêng để làm bài. Mục từ vựng và bảng phiên âm quốc tế cuối sách còn xảy ra tình trạng thiếu sót, sắp xếp nhầm bài học và có sự bất nhất khi dùng ký hiệu phiên âm Anh-Anh trong khi ngữ liệu giảng dạy lại là chuẩn Anh-Mỹ. Đáng chú ý, khoảng 70% giáo viên phản ánh áp lực lớn về thời gian khi phải hoàn thành khối lượng hoạt động giao tiếp phong phú trong thời lượng giới hạn 45 phút mỗi tiết, đặc biệt trong điều kiện lớp học đông từ 40 đến 50 học sinh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các rào cản trên xuất phát từ sự xung đột giữa triết lý giáo dục lấy người học làm trung tâm và thói quen giảng dạy truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm đã tồn tại suốt hơn hai thập kỷ. Giáo viên quen đóng vai trò truyền đạt kiến thức một chiều, trong khi giáo trình mới đòi hỏi người thầy phải đóng vai trò là nhà thiết kế hoạt động và điều phối viên giao tiếp. Khi đối chiếu với các nghiên cứu của Tomlinson năm 1998 và Savignon năm 1972, kết quả nghiên cứu này tái khẳng định rằng việc đổi mới sách giáo khoa sẽ không thể phát huy trọn vẹn hiệu quả nếu cơ chế kiểm tra đánh giá không thay đổi tương ứng. Trong thực tế, nếu bài thi học kỳ vẫn duy trì 100% dạng bài ngữ pháp và viết lại câu trên giấy, giáo viên sẽ có xu hướng dành tới 80% thời lượng trên lớp để luyện thi thay vì rèn luyện năng lực giao tiếp thực tế cho học sinh.

Về phương diện trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu phản hồi từ 40 giáo viên và 130 học sinh có thể được mô tả hiệu quả thông qua một bảng ma trận đối chiếu điểm mạnh, điểm yếu của 6 cấu phần học liệu kết hợp cùng một biểu đồ cột phân tích tỷ lệ mức độ hài lòng theo từng kỹ năng ngôn ngữ. Dữ liệu thực nghiệm cho thấy điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở nội dung bài học mà nằm ở phương pháp quản lý lớp học quy mô lớn và năng lực tích hợp công nghệ nghe nhìn của giáo viên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đối với Nhà xuất bản Giáo dục và Ban biên soạn, cần tiến hành chỉnh sửa và tái bản bộ sách theo hướng chuẩn hóa toàn diện. Cụ thể, cần tăng diện tích khoảng trống trong sách bài tập lên thêm ít nhất 50% để học sinh viết trực tiếp vào sách, đồng thời rà soát tính nhất quán của bảng phiên âm quốc tế và phân loại chính xác từ vựng theo từng đơn vị bài học, hoàn thành trước kỳ tái bản cho năm học 2003-2004.

Thứ tư, đối với giáo viên giảng dạy tiếng Anh, cần chuyển đổi mạnh mẽ phương pháp sư phạm trên lớp. Giáo viên cần chủ động phân bổ tối thiểu 60% thời lượng của tiết học 45 phút cho các hoạt động tương tác đôi, tương tác nhóm, giảm thiểu thời gian thuyết giảng ngữ pháp trừu tượng và tăng cường sử dụng nhập lượng có cấu trúc (structured input) cùng kỹ thuật phản ứng thể chất (Total Physical Response).

Thứ ba, đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh cùng các cấp quản lý, cần cải cách triệt để quy trình kiểm tra đánh giá. Cần điều chỉnh cấu trúc đề thi định kỳ tại các trường trung học cơ sở bằng cách đưa tối thiểu 30% tỷ trọng điểm số dành cho kỹ năng nghe hiểu và thực hành nói trực tiếp, chấm dứt tình trạng dạy giao tiếp nhưng chỉ kiểm tra ngữ pháp lý thuyết.

Thứ tư, đối với công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, các cơ quan quản lý giáo dục cần tổ chức định kỳ 2 đợt tập huấn chuyên môn mỗi năm cho 100% giáo viên dạy khối lớp 6. Nội dung tập huấn cần tập trung sâu vào kỹ năng quản trị lớp học có sĩ số đông, phương pháp khai thác tối đa bộ 57 tranh ảnh dạy học và kỹ thuật ứng dụng đĩa CD-ROM tự học trong việc giao bài tập về nhà cho học sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, giáo viên tiếng Anh bậc trung học cơ sở tại các trường công lập và ngoài công lập. Luận văn cung cấp kế hoạch bài dạy mẫu chi tiết cho 105 tiết học, hướng dẫn phương pháp khai thác bộ tranh ảnh 57 chi tiết và đĩa CD-ROM, giúp giáo viên tự tin thiết kế tiết dạy lấy học sinh làm trung tâm trong 45 phút.

Thứ hai, cán bộ quản lý giáo dục và tổ trưởng chuyên môn ngoại ngữ tại các Phòng Giáo dục và Đào tạo quận, huyện. Đề tài cung cấp khung tiêu chí đánh giá giờ dạy thực tế, làm cơ sở để xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên môn thường niên cho mạng lưới khoảng 200 đến 300 giáo viên dạy tiếng Anh trên địa bàn quản lý.

Thứ ba, tác giả biên soạn chương trình và biên tập viên tại các nhà xuất bản sách giáo khoa. Khung đánh giá giáo trình của Cunningsworth áp dụng trong luận văn là công cụ chuẩn xác để phân tích cấu trúc bài học, kiểm tra mức độ tái hiện từ vựng và cân bằng khối lượng bài tập trước khi phát hành tài liệu ra thị trường.

Thứ tư, học viên cao học chuyên ngành Phương pháp giảng dạy tiếng Anh (TESOL) và nhà nghiên cứu giáo dục. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study), cung cấp bộ công cụ bảng hỏi chuẩn hóa để mở rộng các đề tài đánh giá tài liệu dạy học ngoại ngữ tại 63 tỉnh thành trên cả nước.

Câu hỏi thường gặp

Bộ sách "Tiếng Anh 6" năm 2002 có điểm gì đột phá so với giáo trình trước năm 2002? Bộ sách đánh dấu sự chuyển dịch căn bản từ phương pháp ngữ pháp - dịch sang dạy học ngôn ngữ giao tiếp, gồm 16 bài học chia thành 6 chủ điểm thực tế, in 4 màu với 204 trang kèm hệ thống băng đĩa và hình ảnh đồng bộ.

Tại sao giáo viên gặp khó khăn về mặt thời gian khi dạy tiết học 45 phút? Khảo sát cho thấy 70% giáo viên gặp áp lực do sĩ số lớp học quá đông, thường từ 40 đến 50 học sinh, khiến việc tổ chức cho tất cả các nhóm thực hành hội thoại và nhận phản hồi chi tiết trong 45 phút trở nên quá tải.

Hệ thống học liệu đi kèm bộ sách giáo khoa mới bao gồm những gì và chi phí ra sao? Bộ học liệu hoàn chỉnh bao gồm sách học sinh (11.200 đồng), sách giáo viên (151 trang, 6.000 đồng), sách bài tập (5.700 đồng), băng cassette (12.000 đồng), bộ 57 tranh ảnh (114.000 đồng) và đĩa CD-ROM tự học (60.000 đồng).

Phương pháp chọn mẫu và đối tượng khảo sát thực tế trong luận văn được tiến hành thế nào? Tác giả đã chọn mẫu có chủ đích tại 4 trường trung học cơ sở gồm Lê Quí Đôn, Lê Lợi, Kiến Thiết và Nguyễn Gia Thiều, thu thập ý kiến chuyên sâu từ 40 giáo viên, 130 học sinh và 3 phụ huynh học sinh.

Khuyến nghị then chốt nhất để nâng cao chất lượng dạy học theo giáo trình mới là gì? Giải pháp quan trọng nhất là đổi mới kiểm tra đánh giá, yêu cầu đưa tối thiểu 30% cấu trúc điểm số kiểm tra định kỳ vào kỹ năng nghe và nói thực hành nhằm tạo động lực học tập giao tiếp thực chất cho học sinh.

Kết luận

Thứ nhất, luận văn đã thực hiện đánh giá toàn diện bộ giáo trình "Tiếng Anh 6" và khẳng định tính ưu việt của phương pháp giao tiếp trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trung học cơ sở.

Thứ hai, nghiên cứu đã nhận diện chính xác các điểm nghẽn thực tiễn như lớp học đông từ 40 đến 50 học sinh, hạn chế về khoảng trống trong sách bài tập và sự thiếu đồng bộ giữa ký âm ngữ liệu.

Thứ ba, đề tài xác lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm có độ tin cậy cao từ 4 trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh trong suốt giai đoạn thí điểm kéo dài 6 năm từ năm 1997 đến năm 2002.

Thứ tư, nghiên cứu xây dựng các bài học kế hoạch mẫu chuẩn mực cho chương trình 105 tiết học, tối ưu hóa hoạt động sư phạm trong khung thời gian 45 phút mỗi tiết.

Thứ năm, luận văn khẳng định yêu cầu bắt buộc phải chuyển đổi kiểm tra đánh giá với mục tiêu tối thiểu 30% điểm số kỹ năng thực hành để đảm bảo thành công cho công cuộc đổi mới giáo dục.

Về lộ trình tiếp theo, các đề xuất chỉnh sửa sách bài tập và tập huấn phương pháp cần được hoàn thành ngay trong năm học 2003-2004. Quý thầy cô, cán bộ quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp khung phân tích và giáo án mẫu trong luận văn để áp dụng vào thực tế giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục ngoại ngữ hiện nay.