CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH VÀ VĂN HÓA KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 1.1 Văn hóa là gì Văn hóa ra đời và phát triển luôn gắn liền với đời sống xã hội của con người. Phạm trù văn hóa rất đa dạng và được hiểu theo đa nghĩa. Ngày nay, khái niệm văn hóa được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau như: văn hóa xã hội, văn hóa giáo dục, văn hóa gia đình, văn hóa quản lý.
Từ đó khiến cho việc nghiên cứu và cách lý giải về văn hóa càng ngày càng trở nên phức tạp. Tuy có nhiều cách lý giải khác nhau, đứng dưới các góc độ khác nhau nhưng các nhà khoa học và nghiên cứu văn hóa cũng có những điểm chung khi nhận diện văn hóa đó là: văn hóa là phương thức tồn tại đặc hữu của loài người, chỉ có ở con người mới có. Văn hóa là cái để phân biệt giữa con người và động vật. Nó được con người tính lũy và đúc rút, học hỏi được mà có, không phải bẩm sinh do di truyền tạo ra.
Văn hóa mang bản sắc, nghĩa là nền văn hóa khác nhau có biểu hiện khác nhau, các tổ chức khác nhau có giá trị văn hóa khác nhau. Từ góc độ nghiên cứu của học viên có thể nêu lên một số quan điểm phổ biến về văn hóa như sau đây: Theo phương Tây, có quan niệm chung về văn hóa – cultural (tiếng Anh) hay Kultura (tiếng Đức), đều xuất phát từ chữ Latinh – cultur có nghĩa là: khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực. Sau đó, từ cultur được mở rộng dùng trong lĩnh vực xã hội, nội hàm của nó là sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người. Viện sĩ người Pháp Teilhard de Chardin đã đưa ra nhận định, khi trái đất hình thành và phát triển đến lúc xuất hiện sự sống gọi là sinh quyển (Biosphere), sau đó ra đời tri quyển (Noosphere) gắn với sự phát triển của người khôn ngoan, thông minh.
Tri quyển có nghĩa là nói về ý thức, về tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn. Đó là văn hóa, biểu hiện là như là thế giới tinh thần của con người[3,tr279]. 8 Các nhà văn hóa phương Tây trong thời hiện đại đã có đưa ra nhiều quan điểm để phân tích sâu sắc về phạm trù văn hóa. Trong số đó nổi lên hai nội dung lớn gồm Thứ nhất, từ văn hóa viết hoa (Culture) được chỉ định là thuộc tính chỉ có loài người, nó là cái để phân biệt giữa loài người và loài vật.
Ở đó là khả năng tư duy, học hỏi, thích ứng và sáng tạo ra những quan niệm, biểu tượng giá trị, làm cơ sở cho hệ thống ứng xử để loài người có thể tồn tại và phát triển. Thứ hai, từ văn hóa viết thường (cultures), được chỉ là những kiểu văn hóa khác nhau. Ý chỉ những lối sống của các cộng đồng người, biểu hiện trong các quan niệm về giá trị trong hệ thống các hành vi ứng xử mà các cộng đồng ấy đã học hỏi được và sáng tạo trong hoạt động sống của họ. Đó còn là những truyền thống của cộng đồng được hình thành nên trong các điều kiện xã hội và lịch sử nhất định.
Theo phương Đông, vốn là nơi nảy sinh nhiều học thuyết chính trị, xã hội và học thuật huyền bí từ rất lâu đời, nên phạm trù văn hóa cũng được đề cập và lý giải một cách rất đa dạng dưới nhiều góc độ. Theo từ Hán cổ văn hóa bao gồm hai chữ: là văn chỉ vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của trí thức, trí tuệ của con người có thể thông qua việc tu dưỡng trong cuộc sống. Còn chữ hóa chỉ sự cảm hóa, giáo dục con người và hiện thực hóa nó trong đời sống xã hội. Do đó nhiều lúc người ta hay đồng nghĩa giữa văn hóa với nhân hóa hay nhân văn.
Có thể thấy, văn hóa theo quan niệm của cả phương Tây và phương Đông có một nghĩa chung căn bản là sự giáo dục, vun trồng nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), nhằm làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn[9, tr8]. Ngoài ra khi nghiên cứu về khái niệm văn hóa, các nhà khoa học cũng tiến hành tiếp cận theo góc độ phạm vi cụ thể như: Thứ nhất văn hóa dưới góc độ nhìn rộng, bao quát, thì có F.Mayor (nguyên Tổng Giám đốc UNESCO) đã cho rằng: văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố các định đặc tihs riêng của mỗi dân tộc[31, tr16]. 9 Qua định nghĩa này, văn hóa được hiểu là bao gồm tất cả hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ và hiện tại, nên nó mang giá trị truyền thống rất cao.
Văn hóa có thể được coi là những giá trị của cộng đồng hay giá trị của cá nhân trải qua quá trình hoạt động sáng tạo mà hình thành.Herriot nhìn nhận văn hóa thông qua lăng kính giá trị giáo dục cao và khẳng định sự trường tồn của nó trong mỗi xã hội, mỗi con người. Ông cho rằng: Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái còn thiếu sau khi người ta đã có tất cả[31,tr16]. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh (vị danh nhân văn hóa thế giới) của người Việt Nam chúng ta vốn sinh thời cũng rất quan tâm đến vấn đề văn hóa. Vì Người cho rằng muốn phát triển đất nước phải quan tâm tới bốn vấn đề chính và coi quan trọng ngang nhau, đó là: chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.
Đồng thời để làm rõ hơn vấn đề giá trị của văn hóa, Người viết: Vì lẽ sinh tồn, cũng như vì mục địch cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn ở, và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo, phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn[31,tr17]. Đối với trường hợp văn hóa theo nghĩa hẹp, chính là biểu hiện những hoạt động văn hóa, những giá trị tinh thần của con người, nhóm người cụ thể, một ngành cụ thể. Tiêu biểu như: ngành Văn hóa, ngành Điện ảnh,.; hoạt động văn hóa – nghệ thuật như ca nhạc, nghệ thuật, sân khấu, điện ảnh, giao lưu.; một lĩnh vực văn hóa nào đó, một giá trị văn hóa được đưa vào hoạt động cụ thể của con người như: văn hóa ứng xử, văn hóa kinh doanh, văn hóa hàng hóa, văn hóa bán hàng.; văn hóa của một tổ chức, một lớp người nào đó như văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, văn hóa quản trị và quản lý.
Ngoài ra các nhà nghiên cứu còn tiếp cận văn hóa theo sự biểu hiện, như phân loại văn hóa thành: văn hóa vật thể (tangible) và văn hóa phi vật thể (intangible). 10 Trong đó văn hóa vật thể là toàn bộ di sản văn hóa, các sản phẩm văn hóa có thể nhìn thấy, sờ thấy như: di tích lịch sử, đình, chùa, lăng, miếu,., sản phẩm văn hóa: sách, báo, băng đĩa, tranh ảnh, đồ gốm,. Còn văn hóa phi vật thể là các phong tục, tập quán, tín ngưỡng; lối sống của dân tộc, nhóm người, cá nhân; các giá trị văn hóa truyền thống với những làn điệu dân ca, đàn ca tài tử, lối ứng xử hay bản sắc văn hóa; các chuẩn mực đạo đức,. Từ tất cả sự phân tích và nghiên cứu ở trên, học viên xin tự rút ra một định nghĩa: văn hóa là toàn bộ những phản ánh về sự sáng tạo trong đời sống vật chất và tinh thần của con người, tạo ra những giá trị tốt đẹp để trở thành truyền thống và được một cộng đồng nhất định duy trì và phát triển.2 Văn hóa doanh nghiệp Trước khi đi vào khái niệm văn hóa doanh nghiệp, học viên sẽ tiến hành tiếp cận vấn đề từ khái niệm doanh nghiệp.
Căn cứ theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì doanh nghiệp được định nghĩa theo ba cách phù hợp với những loại doanh nghiệp nhất định như: Thứ nhất, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hợp pháp được thành lập theo luật dịnh để thực hiện chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa và dịch vụ. Nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội, thông qua hoạt động hữu chs đó để kiếm lời. Thứ hai, doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế do Nhà nước, đoàn thể hoặc tư nhân đầu tư vốn nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc hoạt động công ích, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Thứ ba, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục tiêu thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Theo đó có thể thấy được rằng, muốn trở thành một doanh nghiệp cần có những tiêu chí sau: Đầu tiên, là một tổ chức kinh tế hợp pháp (được Nhà nước cho phép thành lập). Kế đến, thực hiện sản xuất hoặc kinh doanh – dịch vụ một hay nhiều chủng loại hàng hóa nào đó; hoạt động theo hệ thống mục tiêu được xác định theo những nguyên tắc 11 nhất định; pháp nhân hoặc thể nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Cuối cùng là hoạt động nhằm sinh lợi. Theo tác giả Phạm Thanh Tâm thì doanh nghiệp hiện nay được hiểu là: một tổ chức kinh tế hợp pháp được thành lập theo luật định và hoạt động theo hệ thống những nguyên tắc, mục tiêu được xác định.
Trong doanh nghiệp bao gồm những người lao động làm việc với chức năng nhiệm vụ khác nhau của sản xuất – kinh doanh hoặc dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi[31, tr28]. Về khái niệm văn hóa kinh doanh, theo nhà nghiên cứu xã học Mỹ E.Schein thì “văn hóa doanh nghiệp” được hiểu là “tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thích ứng bên trong của các nhân viên trong tổ chức. Các quy tắc này đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vẫn cấp thiết trong hiện tại”[31, tr27]. Còn nhà nghiên cứu và là chuyên gia về doanh nghiệp người Pháp G.